Xem Ngay

Tình quê hương đất nước chính là một nét nổi bật của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Phân tích những nét chung và đặc điểm riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong các bài thơ Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm) , Việt Bắc (Tố Hữu) và Đất Nước (Nguyễn Đình Thi). - Văn mẫu lớp 12 - Viết bài tập làm văn lớp 12- Những bài văn hay lớp 12

HocNhanh.vn
Tình quê hương đất nước chính là một nét nổi bật của thơ thời kì kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Phân tích những nét chung và đặc điểm riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong các bài thơ Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm) , Việt Bắc (Tố Hữu) và Đất Nước (Nguyễn Đình Thi). - Văn mẫu lớp 12 - Viết bài tập làm văn lớp 12- Những bài văn hay lớp 12

A-gợi ý chung
       - Phải khái quát được vấn đề trên cơ sở bám sát và nắm chắc văn bản của tác phẩm.
       - Tất cả “nét chung” được nêu lên đều phải tìm được dẫn chứng của ba tác phẩm.
       - Cần lí giải nguyên nhân nào đã khiến cho bài thơ gặp gỡ nhau thống nhất nhau về vấn đề đó.
B - gợi ý cụ thể
A) mở bài
       - Tình yêu quê hương đất nước là một đề tài lớn trong làng thơ ca Việt Namnói chung và thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp nói riêng.
       - Các nhà thơ đã có những điểm gặp gỡ nhau trong cái nhìn về quê hương đất nước.
B) Thân bài
       1.Trước hế là các nhà thơ kháng chiến chống thực dân Pháp đều rung động với thiên nhiên tươi đẹp thấm đậm chất trữ tình của đất nước. Khác với thiên nhiên trong Thơ Mới, thiên nhiên lúc này tràn ra ngoài những cái khung nhỏ hẹp và nhiều khi mang những nét đẹp kì vĩ, phóng khóang. Nó hay được tái hiện từ một cái nhìn toàn cảnh một cách khách quan, tạo nên cái phông thích hợp cho những vấn đề to lớn được nói tới.
       2.Các nhà thơ thường thể hiện ý thức làm chủ đối với quê hương đất nước vì họ là những công dân mới của một đất nước có chủ quyền. Từ sở hữu “của” xuất hiện nhiều lần. Quê hương lúc này đồng nghĩa với Tổ quốc, đất nước. Tên các địa danh của đất nước thường được nhắc đến với cảm xúc tự hào.
       - Bề sâu lịch sử và truyền thống văn hoá của quê hương đất nước được các nhà thơ quan tâm thể hiện, khiến cho hình tượng được nói ra có thêm chiều sâu. ở đây, thơ kháng chiến đã thừa kế được truyền thống tốt đẹp của thơ văn yêu nước thời kì trung đại.
       - Cảm hứng về quê hương đất nước mang tính chất chính trị – xã hội rõ nét. Hình ảnh quê hương đất nước ở đây không chỉ mang sắc thái muôn đời như trong thơ mới mà còn là hình ảnh đang vận động đổi mới theo từng bước phát triển của cách mạng, của kháng chiến. Có hình ảnh quê hương trong cảnh điêu tàn. Có hình ảnh quê hương quật khởi. Có hình ảnh quê hương sáng đẹp trong một tương lai gần.

C) Kết bài

       - Những nét chung trong cảm hứng về quê hương đất nước đã nêu ở trên cũng chính là nét của thơ kháng chiến.
       - Thơ kháng chiến quả đã đánh dấu bước chuyển của một nền thơ theo hướng gắn bó với dân tộc và cách mạng , nó đậm chất sử thi của thời đại mới.

C – Bài làm
       “Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu, Nghe dịu nỗi đau của mẹ. Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ…”( Tạ Hữu Yên). Đất nước đi vào lời ca đẹp là thế, sâu lắng đến thế ai mà không yêu được! Tình yêu ấy càng thiết tha khi đất nước đang chìm trong dầu sôi lửa bỏng. Ta bắt gặp trong tình quê hương ấy trong thơ và điển hình là các bài thơ Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Việt Bắc (Tố Hữu) và Đất nước (Nguyễn Đình Thi).

       Đất nước Việt Nam sinh ra những con người anh hùng, những Võ Thị Sáu, những Nguyễn Thị Rành. Đất nước cũng là nơi “chôn rau cắt rốn” của những thi sĩ đầy tài năng, những con người sống sâu với cuộc đời. Những con người nhạy cảm ấy có lẽ nào yên lòng nhìn đất nước đang quằn quại lên trong bom đạn? Chiến tranh phá huỷ tất cả, và chính sự mất mát to lớn ấy đã dậy lên trong lòng h ọ một lòng căm thù giặc sâu sắc, một niềm tự hào dân tộc về dân tộc Việt Nam oai hùng, đất nước Việt Nam giàu đẹp. Cái cảm hứng vừa căm giận, vừa tự hào như thế chỉ có ở các thi sỹ yêu nước; họ gởi cái cảm hứng ấy vào lời thơ của mình; nhẹ nhàng mà sâu lắng, từ tốn mà cuộn xoáy vào lòng người nỗi đau “xót xa như rụng bàn tay”
                             Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
                             Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
                             Ruộng ta khô
                             Nhà ta cháy
                             Chó ngộ một đàn
                             Lưỡi dài lê sắc máu.
                                                                                  (Bên kia sông Đuống)
       Cảnh sống thanh bình của “Bên kia sông Đuống” giờ đây không còn nữa, đâu rồi những “khuôn mặt búp sen”, những em “sột soạt quần nâu”, những cụ già “phơ phơ tóc bạc trắng”. Tất cả đã mất đi từ cái ngày khủng khiếp ấy, thay vào đó là ngọn lửa hung tàn, là những chiếc giày đinh đang nghiền nát đất mẹ yêu thương. “Bây giờ tan tác về đâu?” Câu hỏi tưởng chừng như hụt hẫng nhưng đó chính là lời buộc tội đanh thép và cũng là là sự bộc lộ thái độ căm giận bọn giặc ngoại xâm của nhà thơ. Hình hài đất nước phải chăng đang hằn lên những vết thương sâu hoắm khiến Nguyễn Đình Thi đã phải thốt lên.
                             Ôi những cánh đồng quê chảy máu
                             Dây thép gai đâm nát trời chiều
       Bọn quỷ mắt xanh trừng trợn dã man “lấy máu đỏ tươi lên cánh đồng vàng”, bao nhiêu gia đình tan hoang, bao nhiêu bà mẹ đã mất con, bao nhiêu người vợ mất chồng? Trong lòng người dân Việt Nam càng dậy lên một nỗi căm hờn, vì bọn giặc mà cảnh sống thanh bình đã tan biến, bao nhiêu giá trị văn hoá, truyền thống dân tộc bị xé tan bởi bom đạn chiến tranh. Thay vào đó là những chuỗi ngày gian nan sống trong rừng để hoạt động cách mạng.
                                Mình về có nhớ chiến khu
                             Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai.
       Thế đấy, chính vì mình mà nhân dân đã phải chịu những nỗi mất mát to lớn cả về mặt vật chất và tinh thần. Cái dáng vẻ run rẩy yếu ớt của bà mẹ quảy gánh hàng rong “bước cao thấp bên bờ tre hun hút” cứ ám ảnh, vây lấy tôi. Tuổi già có phảiđể “còm cõi gánh hàng rong” đâu? Nhưng chiến tranh đã thay đổi tất cả. Nó bắt mẹ già phải tiễn con ra trận, phải xa lìa hòn  máu cắt. Nó bắt trẻ con phải mất đi cuộc sống hồn nhiên vô tư. Thương quá cái cảnh?
                             Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
                             Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn.
       Tuổi thơ không được nghe lời ru của mẹ,  không được ăn uống đầy đủ;, chỉ nghe” tiếng súng dồn tựa sấm”. Càng thương càng thấy căm hờn bọn ngoại xâm man rợ. Những đứa trẻ đáng yêu sợ hãi trong cảm giác giấc mơ của mình
                             ú ớ cơn mê
                             Thon thót giật mình
                              Bóng giặc giày vò những nét môi xinh.
       Phải thương trẻ con lắm và phải căm thù bọn giặc lắm Hoàng Cầm mới viết được những dòng thơ chua xót như vậy. Nhưng con người Việt Nam không chịu khuất phục trước tội ác của giặc.
                             Từ những năm đau thương chiến đấu
                             Đã ngời lên nét mặt quê hương
                             Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
                              Đã bật lên những tiếng căm hờn.
       Căm thù giặc nhưng cả ba nhà thơ không quên tự hào về đất nước,về con người Việt Nam. Đất nước khoác lên mình những vẻ đẹp tuyệt vời bằng những lời thơ nhẹ nhàng sâu lắng:
                             Sông Đuống trôi đi
                             Một dòng lấp lánh
                             Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì.
       Đất nước đẹp với những bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc, với “dòng sông đỏ nặng phù sa”, “những cánh đồng thơm ngát, những nẻo đường bát ngát”. Đó là những mùa thu “hương cốm mới”, “hàng tre phấp phới”, “trong biếc nói cười thiết tha”. Hay với Tố Hữu, Việt Bắc đẹp cả bốn mùa Xuân , Hạ, Thu , Đông.
                                  Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
                             Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
                                  Ngày xuân mơ nở trắng rừng
                             Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
                                  Ve kêu rừng phách đổ vàng
                             Nhớ cô em gái hái măng một mình
                                   Rừng thu trăng rọi hoà bình
                             Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
       Đất nước đẹp nuôi dưỡng những con người anh hùng. Đoàn quân mạnh mẽ, hào hùng hành quân trên những con đường Việt Bắc “đêm đêm rầm rập như là đất rung”.
                                  Quân đi điệp điệp trùng trùng
                             ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
                                  Dân công đỏ đuốc từng đoàn
                             Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.
       CáI khí thế xuất quân hùng tráng ấy cũng đủ làm cho “Trại giặc bắt đầu run trong sương”, bọn chúng:
                             Ăn không ngon
                             Ngủ không yên
                             đứng không vững
                             Chúng mày phát điên
                             Quay cuồng như xéo trong đống lửa.
       Tiền tuyến có các anh bộ đội , các anh du kích dũng cảm gan dạ, hậu phương không thể thiếu những ngừoi đầy tình nghĩa. Những bà mẹ “già nua còm cõi gánh hàng rong” mà nuôi dưỡng che giấu bộ đội, hoạt động cách mạng.Những con người mà:
                                  Thương nhau chia củ sắn lùi
                             Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng
       Cả ba nhà thơ đều chung đất mẹ Việt Nam, nhưng cuộc sống vốn đa dạng và phong phú, mỗi nhà thơ nhìn nhận đất nước theo cách riêng của mình. Với Bên kia sông Đuống, tâm trạng của nhà thơ là tâm trạng tiếc nuối , một nỗi đau tinh thần được cụ thể hoá như nỗi đau xác thịt tiếc nuối, “xót xa như rụng bàn tay”. Nỗi căm giận cứ ngày càng dâng trào trong lòng nhà thơ, những giá trị văn hoá tinh thần dân tộc cứ bị huỷ hoại, số phận con người trở nên mong manh và đầy bất hạnh. Nỗi đau ấy được tái hiện qua nỗi nhớ, nhớ về một xứ sở một thời là xứ thần tiên cổ tích nhưng thời ấy đã qua rồi. Quê hương Kinh Bắc tươi đẹp với dòng sông Đuống lượn mình nghiêng nghiêng lấp lánh, với nụ cười độc đáo “như mùa thu toả nắng”, với những cô gái dịu dàng, những truyền thống bất hủ của dân tộc “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”. Nhưng tất cả chỉ còn là dĩ vãng, hiện tại là một vết thương đau nhói trong lòng nhà thơ.
       Đối với Tố Hữu, Việt Bắc là một khúc hát ân tình, mang âm hưởng trữ tình chính trị. Với lối giao duyên, nhà thơ đã dựng lại sống động những năm tháng gian khổ nhưng không kém  phần hào hùng, mạnh mẽ mà cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ khôn nguôi.
       Song song với hai bài thơ trên, Nguyễn Đình Thi cũng có cảm hứng vừa căm giận, vừa tự hào thể hiện qua lời thơ riêng của mình. Đất nước đẹp vì đó là đất nước của chúng ta.
                             Trời xanh đây là của chúng ta
                              Núi rừng đây là của chúng ta…
       Cái điệp khúc “của chúng ta” giúp nhà thơ khẳng định lại chủ quyền mà từ ngàn năm ông cha ta đã giành lại được:
                             Nam quốc sơn hà nam đế cư
                             Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
                             Như hà nghịch lỗ lai xâm phậm
                             Nhữ đẳng hành khanh thủ bại hư
                                                                   (Bài thơ thần – Lý Thường Kiệt)
       Con người trong bài thơ là con người hiên ngang anh dũng, những con người chưa bao giờ khuất:
                             Ôm đất nước những người áo vải
                             Đã đứng lên thành những anh hùng.
       Cái dáng đứng của những con người anh hùng là cái dáng đứng sừng sững của những anh giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất (Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân), của người mẹ còng lưng đào hầm cho bộ đội:
                             Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác
                             Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh
                                               (Đất quê ta mênh mông – Dương Hương Li)


0 Nhận xét