Xem Ngay

Bài Bếp lửa Ngữ Văn 9

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 9 Bài Bếp lửa
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 9, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.

Dạng 1 

BẾP LỬA

Bằng Việt

 

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. "Bếp lửa" của nhà thơ Bằng Việt khơi gợi, làm nhen lên, lan toả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức và pha chút đư­ợm buồn.
Một bếp lửa chờn vờn s­ương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu th­ơng bà biết mấy nắng mưa…
Bài thơ đã bắt đầu nh­ư thế. Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa "chập chờn trong sương sớm”, chập chờn trong kí ức. Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc th­ương yêu của cháu khi nhớ về . Hình ảnh "Một bếp lửa" điệp lại hai lần như­ nhắc nhớ, như­ hơi thở thổi vào bếp lửa đang "ấp iu", để cho mạch hồi tư­ởng bắt đầu... Để trong những dòng thơ tiếp theo, bao kỉ niệm thân thư­ơng cứ bất tận ùa về :
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
(...)
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.
Cháu nhớ, từ lúc cháu mới lên bốn tuổi, sống bên bà "tám năm ròng"... Nhớ quê mình ngày ấy, những ngày "đói mòn đói mỏi", những ngày "bố đánh xe khô rạc ngựa gầy", nhớ "khói hun nhèm mắt", "sống mũi còn cay" đến tận bây giờ... Nhớ bà kể chuyện Huế trong tha thiết tiếng tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu từ cánh đồng xa, da diết, khắc khoải vọng về, nghe chộn rộn, nao nao, lại như­ se sắt, xa xăm. Nhớ khi vắng bố mẹ, "bà bảo cháu nghe", "dạy cháu làm", "chăm cháu học". Nhớ "Năm giặc đốt làng", cháu giúp bà dựng lại nhà. Nhớ lời bà dặn khi viết thư­ để bố yên tâm,... Cứ thế, trong dòng hồi nhớ nôn nao, những sự việc cụ thể hiện về nguyên vẹn từng chi tiết như­ thể vừa mới xảy ra hôm qua hay vừa mới đây thôi. Và thấm đẫm trong từng hình ảnh, từng sự việc ấy là tình cảm sâu nặng của cháu với bà, h­ướng về bà. Hình ảnh người bà đư­ợc khắc hoạ gắn liền với bếp lửa, là khi "cháu cùng bà nhóm lửa", "Nhóm bếp lửa nghĩ th­ơng bà khó nhọc", "Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen", "Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm - Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đ­ợm", gắn liền với nguồn năng lượng ấm áp gụi gần...
Hình ảnh bếp lửa trở đi trở lại (mười hai lần) trong suốt bài thơ. Cuộc đời bà lận đận, khó nhọc, giãi dầu m­a nắng nh­ưng bà luôn dành cho cháu tình thư­ơng yêu, săn sóc, chở che ấm nồng như­ bếp lửa.  - bếp lửa là hai mà như­ một, hoà quyện, xuyên thấm, thiêng liêng. Bếp lửa gợi nhắc hình bóng thân thiết của , và nhớ đến  là cháu lại không thể quên bếp lửa ấm tình thủa ấy. Bếp lửa đã không còn chỉ là bếp lửa thông th­ường nữa. Bà nhen lửa là bà nhen lên :
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Bà nhóm lửa cũng là khi bà :
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Từ ngọn lửa được nhen lên trong bếp lửa của bà hoá thành ngọn lửa của tình thương yêu ấp ủ, ngọn lửa của niềm tin yêu bền bỉ cháy mãi không thôi. Bà nhóm lửa là bà nhóm lên và truyền cho cháu lẽ sống, lòng cảm thông, đức hi sinh, chia sẻ. Mỗi khi xúc cảm kết thành những suy ngẫm sâu xa, lời thơ lại trào dâng như­ những điệp khúc bập bùng, chứa đựng niềm xúc động rưng rưng, bừng cháy trong mạch tự sự của nhân vật trữ tình.
 Những hình ảnh thực, cụ thể, vốn rất đỗi gần gũi, thân quen đã đư­ợc tác giả nâng lên thành những hình ảnh biểu tượng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc. Điều bình dị đã trở nên quý giá, thiêng liêng, kì lạ. Kì lạ, thiêng liêng vì nó nhỏ bé, giản đơn mà đã trở thành hành trang theo cháu trong suốt cuộc đời. Kì lạ, thiêng liêng là vì đã mấy chục năm rồi mà bếp lửa của bà vẫn nồng đ­ượm trong kí ức thiêng liêng của cháu, ngọn lửa của bà vẫn thầm cháy trong cháu đến tận bây giờ:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nh­ưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở :
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên ch­ưa ?
Bài thơ Bếp lửa đ­ược sáng tác khi Bằng Việt đang là sinh viên ngành luật của Trường Đại học Tổng hợp Ki-ép (Liên Xô cũ). Kì lạ và thiêng liêng biết bao khi trong cuộc sống đã Có ngọn khói trăm tàuCó lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả mà lòng vẫn khôn nguôi hình ảnh ng­ười bà với bếp lửa ở tận miền kí ức xa xôi của tuổi ấu thơ.
Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của ngọn lửa của , tình thương yêu của , cuộc đời  đã soi rọi, toả ấm con đường cháu đi. Có thể cuộc sống hiện đại sẽ không còn nhiều ngư­ời biết đến bếp lửa như­ ở nơi quê nghèo ấy nữa, như­ng nó đã thành biểu tượng, sẽ còn mãi giá trị khơi gợi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam. Điều nhỏ nhoi, giản dị mà có ý nghĩa sâu sắc, lớn lao là nh­ư vậy.
II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
1. Đọc bài thơ bằng giọng hồi tưởng, nhịp chậm.
2. Đọc lại bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh (sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập một) để thấy những điểm tương đồng và khác biệt trong việc thể hiện kí ức tuổi thơ giãư hai tác giả.
Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong quy luật vận động tự nhiên của nó. Ở đây, tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu tr­ớc cách mạng, Vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, tr­ớc là tách biệt, xa cách với cuộc đời thì hôm nay, lại gần gũi với con ng­ời. Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữa con ngư­ời và thiên nhiên, và con ngư­ời đã chiến thắng. Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con ngư­ời trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui."

II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
“Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được xem là một khúc tráng ca, một bài ca lao động, dạt dào cảm hứng về thiên nhiên và đất nước, con người trước cuộc sống mới.
Vì vậy, khi đọc cần chú ý thể hiện chất giọng khoẻ khoắn, sảng khoái, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người lao động làm chủ thiên nhiên và vũ trụ.


Dạng 2

bếp lửa của Bằng Việt
I. Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. 
a. Bài thơ là lời của người cháu nói về bà, nói về tình yêu thương tha thiết mà bà đã giành cho cháu trong những ngày gian khổ.
b. Bài thơ có bố cục bốn phần:
- Ba dòng thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà.
- Bốn khổ thơ tiếp theo (từ Lên bốn tuổi đến Chứa niềm tin dai dẳng): Hồi tưởng những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.
- Hai khổ thơ tiếp theo (từ Lận đận đời bà đến thiêng liên – bếp lửa): Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.
- Khổ cuối: Cháu đã trưởng thành, đã đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà.
Câu 2. Trong hồi tưởng của người cháu biết bao kỷ niệm thân thương đã được gợi lại:
- Năm lên bón tuổi là năm đói kém, nhọc nhằn (1945). Nạn đói năm ấy đã trở thành bóng đen ghê rợn ám ảnh cháu.
- Tám năm ở cùng bà khi che mẹ bận công tác, bà dạy cháu học, dạy cháu làm, bà kể chuyện cháu nghe, chia sẻ với cháu nỗi vắng mẹ, cặm cụi nhóm lửa, nuôi nấng cháu.
- Năm giặc đốt làng, đốt nhà, bà vẫn vững lòng dặn cháu giữ kín chuyện để bố mẹ yên tâm công tác, bà vẫn sớm chiều nhen nhóm ngọn lửa ủ ấm lòng cháu. Kỷ niệm nào về bà cũng thấm đậm yêu thương.
Bài thơ đan xen giữa kể là những đoạn tả sinh động, tả cảnh bếp lửa chờn vờn trong sương sớm, tả cảnh đói mòn đói mỏi, cảnh làng cháy, đặc biệt là hình ảnh cặm cụi, tần tảo sớm hôm của bà… Lời kể và tả chứa chan tình yêu thương, lòng yêu ơn của người cháu nơi xa đối với bà.
Câu 3. Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ gấn liền với hình ảnh bà. Hình ảnh bếp lửa nhắc đi nhắc lại đến mười lần. Hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh bà. Sự tần tảo, hy sinh của bà đã trở thành thói quen, hình ảnh ấy khắc ghi trong lòng cháu:
“Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”.
Bà là người nhóm lửa. Ngọn lửa bà nhóm lên mỗi sớm mai là nhóm niềm yêu thương, niềm vui, sưởi ấm lòng cháu. Đứa cháu năm xưa đã lớn khôn, đã tung cánh bay xa tới những chân trời rộng lớn “Có lửa trăm nhà niềm vui trăm ngả” nhưng vẫn không thể quên ngọn lửa của lòng bà. Người lửa lòng đã trở thành kỷ niệm, thành niềm tin thiêng liêng kỳ diệu, nâng bước cháu suốt chặn đường dài.
Câu 4. Hình ảnh bếp lửa gắn với bà mỗi sớm mỗi chiều, trở thành hình ảnh ngọn lửa mang nhiều ý nghĩa:
“Rồi sớm mỗi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.
Giờ đây bếp lửa bà nhóm không phải chỉ bằng lá khô bà quét, rơm tạ bà gom, không phải chỉ bằng nhiên liệu mà nó còn được nhóm bằng ngọn lửa của chính lòng bà, ngọn lửa của sức sống, của lòng yêu thương và của lòng tin mãnh liệt. Từ hình ảnh bếp lửa trong đời thường đã trở thành ngọn lửa mang ý nghĩa khái quát. Như vậy, bà không phải chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa lòng cho thế hệ nối tiếp. Hình ảnh người bà, người phụ nữ Việt Nam với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, đầy yêu thương hiện lên lấp lánh ánh sáng kỳ diệu trong suốt bài thơ. Cái hay của bài thơ còn ở chỗ đó.
Câu 5. Tình cảm bà cháu trong bài thơ rất sâu nặng. Đây là lời yêu thương tha thiết của người cháu nơi xa đối với bà:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lức nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...”
Tình cảm ấy vượt qua chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian, neo đậu mãi trong trái tim cháu. Tuổi thơ của cháu đã đi qua theo năm tháng, khoảng cách giữa bà và cháu cũng đã xa vời vợi nhưng cháu chẳng lúc nào quên nhắc nhở về bà.
Tình yêu, lòng biết ơn của cháu đối với người bà cũng chính là lòng biết ơn đối với gia đình, quê hương, đất nước.


0 Nhận xét