Xem Ngay

Bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa Ngữ Văn 10

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 10 Bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 10, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.


                                                              Dạng 1

CA DAO THAN THÂN
VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Khái niệm ca dao
Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian.
Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự.
2.  Đặc điểm của ca dao
Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm...
Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu... (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức...).
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau:
- Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa.
- Nội dung yêu thương tình nghĩa:
+ Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.
+ Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ).
2. Về các bài 1, 2
a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa  xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất  đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.
b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng: 
- Bài 1 : Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?).
- Bài 2 : Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa.
3. Về bài 3
a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:
- Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
- Ai làm bầu bí đứt dây
Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng.
Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…
 b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.
 c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào  buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm  vượt qua những  rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.
4. Về bài 4
Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.
Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể - nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.
Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt... nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.
Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn - đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.
Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.
5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo - là cành hồng, là ngọn mồng tơi,... và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một "cái cầu tình yêu". Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi... những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu - dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình.
Xem thêm một số câu ca dao về chiếc cầu dưới đây: 
- Hai ta cách một con sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang
- Cách nhau có một con đầm
Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang
Cành trầu lá dọc lá ngang
Đố ngư­ời bên ấy bư­ớc sang cành trầm
- Gần đây mà chẳng sang chơi
Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu
Sợ rằng chàng chả đi cầu
Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em...
Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao:
Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như­ những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh "chiếc cầu" (cành hồng, cành trầm) nh­ưng đều có giá trị thẩm mĩ cao.
Ở bài ca dao dư­ới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) như­ng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hư­ớng đến chàng trai (ngư­ời ở phía bên kia).
6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay - muối mặn).
- Muối  gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống - tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.
Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng - những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay - muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.
7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là:
- Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như...
- Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn,  gừng cay - muối mặn...
- Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai…
- Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở.
- Thể thơ: lục bát - lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).
Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ - dấu ấn đặc trưng của từng tác giả.
8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng "thân em như...":
- Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày
- Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa
- Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
- Thân em như miếng cau khô
Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày
- Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.
Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao :
- Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh : thân em - hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn - vui, sướng - khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.
- Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.
- Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.
9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn:
- Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên
- Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?
- Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.
- Gửi khăn, gửi áo, gửi lời
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa
- Nhớ khi khăn mở trầu trao
Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao khăn thương nhớ ai tuy vẫn nằm trong hệ thống các bài ca dao thương nhớ trên đây nhưng nó vẫn có điểm riêng: Nỗi nhớ trong bài ca dao này vừa cụ thể, sinh động hơn lại vừa tổng hợp khái quát nhiều cung bậc hơn. Chính vì vậy nó cuốn hút và hấp dẫn hơn. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm "Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm" vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn - câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt.


Dạng 2

ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa


I. Gợi ý trả lời câu hỏi
Câu 1.
Bài 1. Bài ca dao mở đầu bằng “Thân em như…’’ với âm điệu xót xa, bùi ngụi. Đây là lời than thân của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Họ tự ví mình như “tấm lụa đào’’ – đẹp và phơi phới tuổi xuân – nhưng họ mang thân phận phụ thuộc, không thể tự quyết định hạnh phúc của mình. Do vậy, tâm trạng của họ là vừa xót xa cho thân phận, vừa lo lắng, bất an cho tương lai của mình.
Bài 2. Cũng mở đầu bằng hình thức “Thân em như…’’, nhưng ở bài ca dao này, sự thức về bản thân của người phụ nữ được nâng lên ở mức cao hơn, họ ý thức đượ giá trị của mình “Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen’’. Vì tự ý thức được giá trị bản thân nên họ càng chua xót, ngậm ngùi bởi không ai biết được giá trị của họ, họ phải tự bộc bạch :
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi
Rõ ràng, ngoài lời than thân, bài ca dao này còn là tiếng nói khẳng định mạnh mẽ giá trị, phẩm chất của người phụ nữ.
Câu 2. Bài 3.
- Bài ca dao này không mở đầu trực tiếp như hai bài thơ trên mà dùng lối nói đưa đẩy, gợi cảm hứng. Cách mở đầu này thường xuất hiện trong ca dao với hình thức : “Trèo lên cây bưởi hái hoa…’’, “Trèo lên cây gạo cao cao…’’. Nếu hình thức “Thân em như…’’ là nỗi đau về thân phận người phụ nữ thì hình thức “Trèo lên…’’ là nỗi đau vì tình duyên lở dở, thường là lời của chàng trai.
- “Ai’’ là đại từ phiếm chỉ hàm ý chỉ những thế lực cản trở tình duyên đôi lứa. Câu hỏi tu từ bật ra như lời ai oán, xót xa cho số phận. Tình duyên không thành nhưng tình nghĩa của người con trai vẫn trước sau không thay đổi. Tình nghĩa đó được ví như mặt trời, mặt trăng, các vì sao từ xưa đến nay vẫn thế. Nhân vật trữ tình đã lấy hình ảnh thiên nhiên, vũ trũ là cái to lớn, vĩnh hằng để nói lên tình nghĩa con người bền vững, thủy chung.
- Dẫu không đến được với nhau, tình yêu của chàng trai dành cho cô gái vẫn vẹn tròn. Chàng trai vẫn một lòng đợi chờ :
“Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời’’
Một hình ảnh so sánh thật đẹp nhưng cũng thật buồn. Sao Vượt chờ trăng nhưng trăng và sao Vượt chẳng bao giờ gần nhau được. Tình cảm của chàng trai cũng thế. Hình ảnh “sao Vượt chờ trăng giữa trời’’ gợi cảm giác mỏi mòn của sự chờ đợi, của sự cô đơn khiến cho cả bài ca dao bàng bạc nỗi buồn da diết và sâu lắng.
Câu 3. Bài 4.
Bài ca dao này đã diễn tả tình cảm thương nhớ của lứa đôi yêu nhau một cách tinh tế, gợi cảm thông qua các biểu tượng “khăn’’, “đèn’’, “mắt’’. Ở đây, “khăn’’, “đèn’’ được nhân hóa, còn “mắt’’ là phép hoán dụ để nói lên nhân vật trữ tình. Mượn biểu tượng “khăn’’, “đèn’’, “mắt’’ cô gái kín đáo, ý nhị bộc lộ tình cảm thương nhớ của mình đối với người yêu.
Sáu câu thơ đầu được viết theo lối vắt dòng, đồng thời từ “khăn’’ ở vị trí đầu được láy lại 6 lần và ba lần điệp khúc “khăn thương nhớ ai’’ tạo cảm giác triền miên, da diết. Cái khăn được miêu tả với các trạng thái “rơi xuống đất’’, “vắt lên vai’’, “chùi nước mắt’’ làm ta liên tưởng tới hình ảnh một con người cụ thể đang trong tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò, đi đi lại lại bứt rứt không yêu bởi trong lòng đang cồn cào nỗi thương nhớ người yêu.
Thanh bằng là thanh được sử dụng chủ đạo trong bài ca dao này, tạo cho bài thơ một âm hưởng bâng khuâng, da diết.
Câu 4. Bài 5. 
Đây là một câu ca dao rất đẹp, giàu chất thơ. Nó là sự thổ lộ tình yêu của người con gái một cách ý nhị. Hình ảnh chiếc cầu là một chi tiết xuất hiện nhiều trong ca dao như :
“Cô kia cắt cỏ bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang’’.
“Gần đây mà chẳng sang chơi
Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu’’.
Xưa nay, ước mong được ở gần nhau là ước mơ chính đáng của các đôi lứa yêu nhau. Ca dao đã thể hiện ước mong đó một cách sâu sắc, duyên dáng. Cô gái ước mong “sông rộng một gang’’ để “bắc cầu dải yếm’’ cho chàng sang chơi. Hình ảnh chiếc cầu giải yếm mãnh liệt và cũng là một ý tưởng táo bạo của cô gái.
Câu 5. Bài 6.
- Hình ảnh “muối’’ và “gừng’’ là những biểu tượng trong ca dao. Người bình dân tìm thấy ở đây những đặc tính riêng của từng hình ảnh và sự gắn bó tự nhiên giữa các hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho nghĩa tình của con người. Gừng cay – muối mặn biểu trưng cho sự gắn bó thủy chung của con người.
- Tình nghĩa vợ chồng gắn bó keo sơn “nghĩa nặng tình dày’’, do vậy “có xa cách đi nữa cũng ba vạn sáu nghìn ngày mới xa’’, câu bát được cải biến thành 13 tiếng, nhịp thơ kéo dài càng làm tăng tính chất khẳng định về sự thủy chung son sắt của tình nghĩa vợ chồng. Ba vạn sáu nghìn ngày là một trăm năm, cũng là cách nói chỉ một đời người. Có nghĩa là sẽ chẳng bao giờ xa cách, chẳng có gì chia lìa tình nghĩa vợ chồng. Cách nói ý nhị và sâu sắc vô cùng.
Một số câu ca dao có biểu tượng muối – gừng :
“Tay nâng chén muối, đĩa gừng
Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau’’
“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay,
Đạo nghĩa cang thường chớ đổi từng ngày
Dẫu làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày, ta cũng theo nhau’’.
II. Luyện tập
Bài tập 1. Tìm năm bài ca dao mở đầu bằng “Thân em như…’’ và phân biệt sắc thái ý nghĩa của chúng.
Một số bài ca dao có mở đầu bằng “Thân em như…’’.
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày’’
“Thân em như cá trong lờ
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu’’
“Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân’’
"Thân em như quả xoài trên cây
Gió đông gió tây nó nam gió bắc
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành
Một mai rụng xuống biết vào tay ai?’’
“Thân em như hạt cau khô
Kẻ thanh tham mỏng, người khô tham dày’’.
Học sinh tự tìm thêm những bài khác nhau. Sắc thái tình cảm của mỗi bài ca dao mỗi khác nhau, học sinh tự phân tích để tìm ra sự khác nhau đó.
Bài tập 2. Tìm thêm những bài ca dao nói về nỗi nhớ người yêu.
Gợi ý:
Ca dao về nỗi nhớ:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than’’
“Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”
“Nhớ ai  ra ngẩn vào ngơ
Đêm quên giấc ngủ, ngày mơ tiếng cười’’.
“Nhớ anh em chỉ nằm dài
Cơm ăn thì nghẹn, nước mắt chảy hoài không khô”
“Trông anh đã mấy thu tròn,
Khăn lau nước mắt đã mòn con ngươi”.
“Nhớ chàng như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông”.
“Nhớ chàng như vợ nhớ chồng
Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây”.
Ca dao có hình ảnh chiếc khăn:
“Gửi khăn, gửi áo, gửi lời
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”
“Nhớ khi khăn mở, trầu trao
Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình”
“Cầm lược thì nhớ tới gương
Cầm khăn nhớ túi, đi đường nhớ nhau”
“Ước gì anh hóa  ra hoa
Để em nâng lấy rồi mà cài khăn”.
“Khăn đào vắt ngọn cành mơ
Mình xuông đằng ấy, bao giờ mới lên”.
“Em về anh mượn khăn tay
Gói câu tình nghĩa lâu ngày sợ quên”.
“Khăn rằn quấn cổ hay hay
Thấy em ôm ốm mình dây anh thương liền”

0 Nhận xét