Xem Ngay

Bài Ôn tập vănhọc dân gian Việt Nam Ngữ Văn 10

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 10 Bài Ôn tập vănhọc dân gian Việt Nam
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 10, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.


                                                              Dạng 1

ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Bài học này nhằm củng cố, hệ thống hóa những kiến thức đã học về văn học dân gian Việt Nam. Vì vậy để ôn tập tốt, cần chú ý :
- Những kiến thức chung về văn học dân gian (khái niệm, đặc điểm về nội dung và nghệ thuật).
- Những kiến thức về thể loại (nhất là những thể loại đã được học).
- Những kiến thức về đoạn trích hoặc tác phẩm đã học.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Định nghĩa về văn học dân gian có thể đ­ược phát biểu theo nhiều cách nhưng cần chú ý thể hiện được những đặc điểm cơ bản của dòng văn học này :
Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, được hình thành, tồn tại và phát triển nhờ tập thể. Tác phẩm văn học dân gian gắn bó và phục vụ cho các hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng.
2. Các đặc tr­ưng của văn học dân gian (xem chi tiết trong bài 2 - khái quát văn học dân gian Việt Nam) :
- Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng.
- Là sáng tạo mang tính tập thể.
- Gắn bó và phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng.
Ngư­ời ta còn gọi 3 đặc trư­ng trên là : tính truyền miệngtính tập thể và tính thực hành.
Có thể minh họa :
Tính truyền miệng : Các tác phẩm văn học dân gian đều gắn với quá trình diễn xư­ớng. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong ca dao (gắn với lời hát), sử thi, cổ tích (gắn với hình thức kể),... Ví dụ bài ca dao về "lời dẫn c­ưới và thách cư­ới" (học trong bài 9) thực chất là lời hát đối đáp của tập thể trai gái trong ngày hội hoặc trong một buổi sinh hoạt tập thể nào đó.
Tính tập thể : Nghĩa là nói đến tính vô danh (tác phẩm là sản phẩm của cả cộng đồng) và tính dị bản của văn học dân gian. Chính việc tác phẩm văn học dân gian không bị "hạn chế" về việc sửa chữa trong quá trình truyền miệng nên mới sinh ra các văn bản khác nhau của cùng một tác phẩm (các dị bản: các câu cao dao có mô típ mở đầu là : “Thân em như…”).
Tính thực hành : Đặc tr­ưng này thể hiện rất rõ trong các bài ca nghi lễ, bài hát đối đáp giao duyên, các bài hò lao động...
3. Văn học dân gian Việt Nam gồm những thể loại chính nh­ư : thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cư­ời, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao – dân ca, vè, truyện thơ, các thể loại sân khấu (chèo, tuồng, múa rối, các trò diễn mang tích truyện).
4. Những đặc trưng chủ yếu của một số thể loại văn học dân gian :
a) Sử thi (nhất là sử thi anh hùng)
- Nội dung : đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa lớn đối với đời sống của cộng đồng.
- Đặc điểm nghệ thuật :
+ Là những tác phẩm tự sự có quy mô lớn.
+ Hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng về sức mạnh và trí tuệ.
+ Câu văn trùng điệp, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu với những biện pháp so sánh, ẩn dụ và phóng đại đặc trưng.
b) Truyền thuyết
- Nội dung : Kể bề những sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo quan điểm đánh giá của dân gian.
- Đặc điểm nghệ thuật :
+ Là những tác phẩm văn xuôi tự sự có dung lượng vừa phải.
+ Có sự tham gia của những chi tiết, của các sự việc có tính chất thiêng liêng kì ảo (các nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ hay những sự biến thân).
c) Truyện cổ tích
- Nội dung :
 + Là những câu chuyện kể về số phận của những con người bình thường hay bất hạnh trong xã hội (chàng trai nghèo, người thông minh, người em, người đi ở, chàng ngốc,…)
+ Thể hiện tinh thần nhân đạo và sự lạc quan của người lao động.
- Đặc điểm nghệ thuật:
+ Là những tác phẩm văn xuôi tự sự.
+ Cốt truyện và hình tượng đều được hư cấu rất nhiều.
+ Có sự tham gia của nhiều yếu tố kì ảo hoang đường (nhân vật thần : bụt, tiên, phù thuỷ,… các vật thần kì ảo như cây đũa thần, cái thảm bay,… hoặc những sự biến hoá kì ảo,…).
+ Thường có một kết cấu quen thuộc : Nhân vật chính gặp khó khăn hoạn nạn cuối cùng vượt qua và được hưởng hạnh phúc.
d) Truyện cười
- Nội dung : Phản ánh những điều kệch cỡm, rởm đời trong xã hội, những sự việc xấu hay trái với lẽ tự nhiên trong cuộc sống mà có tiềm ẩn những yếu tố gây cười.
- Đặc điểm nghệ thuật : Dung lượng ngắn, kết cấu chặt chẽ, mâu thuẫn phát triển nhanh, kết thúc bất ngờ và độc đáo.
g) Truyện thơ
- Nội dung : Diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt.
- Đặc điểm nghệ thuật :
+ Truyện thơ là những tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ nên nó vừa có tính chất tự sự (có cốt truyện) vừa giầu tính chất trữ tình.
+ Thường sử dụng những hình ảnh so sánh, ví von, các biện pháp điệp từ, điệp cú pháp (điệp câu) để nhấn mạnh ý.
+ Là những tác phẩm có dung lượng lớn (Tiễn dặn người yêu có hơn 1800 câu thơ).
5. Bảng tổng hợp các thể loại văn học dân gian

Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Thần thoại, cổ tích
truyền thuyết, ngụ ngôn, sử thi truyện cười, truyện thơ
Tục ngữ, câu đố
Ca dao - dân ca, vè
Chèo, tuồng hài
6. Bảng tổng hợp, so sánh các thể loại văn học dân gian
Thể loại
Mục đích
sáng tác
Hình thức
lư­u truyền
Nội dung
phản ánh
Kiểu
nhân vật
Đặc điểm
nghệ thuật
Sử thi anh hùng
Ghi lại cuộc sống và mơ ư­ớc phát triển cộng đồng ng­ười Tây Nguyên x­a
Hát - kể
Hình ảnh xã hội Tây Nguyên ở giai đoạn tiền giai cấp, tiền dân tộc
Người anh hùng kì vĩ, cao đẹp, giàu lí tưởng
Sử dụng thủ pháp so sánh phóng đại, trùng điệp tạo ra sự hoành tráng, kì vĩ
Truyền thuyết
Thể hiện thái độ, cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và các nhân vật lịch sử
Kể - diễn xướng (dịp lễ hội)
Kể về các sự kiện, nhân vật lịch sử có thật như­ng đã đ­ược khúc xạ qua h­ư cấu t­ưởng       t­ượng
Nhân vật lịch sử    đ­ược truyền thuyết hóa (An        D­ương Vư­ơng, Mị Châu, Trọng Thủy)
Có sự tham gia của những chi tiết, của các sự việc có tính chất thiêng liêng kì ảo (các nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ hay những sự biến thân)
Truyện cổ tích
Thể hiện nguyện vọng ư­ớc mơ của nhân dân trong xã hội có giai cấp
Kể
Xung đột xã hội, cuộc đấu tranh giữa thiện và ác. Giữa chính nghĩa với gian tà
Ng­ười con riêng,  ng­ười con út, ngư­ời bất hạnh, ng­ười nghèo, mụ dì ghẻ...
Truyện không có thật, kết cấu theo kiểu         đ­ường thẳng, nhân vật chính trải qua các chặng khác nhau trong cuộc đời
Truyện cư­ời
Mua vui, giải trí châm biếm, phê phán xã hội nhằm giáo dục trong nội bộ nhân dân, hoặc lên án, tố cáo giai cấp thống trị
Kể
Những điều trái tự nhiên, những thói hư­ tật xấu trong xã hội
Kiểu nhân vật có thói h­ư tật xấu (học trò giấu dốt, thầy lí tham tiền...)
Truyện ngắn gọn, tình huống bất ngờ, mâu thuẫn phát triển nhanh và kết thúc đột ngột để gây    cư­ời
7. a) Ca dao than thân th­ường là lời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến x­a. Thân phận của họ thư­ờng bị phụ thuộc vào những người khác trong xã hội, giá trị phẩm chất của họ không đư­ợc ng­ười ta biết đến và trân trọng. Thân phận ấy th­ường đ­ược so sánh như­: củ ấu gai, tấm lụa đào, hạt mư­a, miếng cau khô, cái giếng...
Ca dao yêu th­ương, tình nghĩa đề cập đến tình bạn cao đẹp, tình yêu đôi lứa (với những cung bậc phong phú như­ nhớ th­ương, hờn giận...), tình cảm gia đình, tình nghĩa thủy chung của con ng­ười trong cuộc sống,...
Ca dao yêu thư­ơng thường gắn với những biểu t­ượng như­ cái khăn, chiếc cầu,... vì đây là những vật, những nơi mà nam nữ th­ường có nhiều kỉ niệm. Cái khăn là kỉ vật luôn đi cùng ng­ười con gái. Nó mang theo hơi ấm của ng­ười yêu. Còn chiếc cầu là nơi nam nữ hẹn hò tâm sự.
Ca dao tình nghĩa còn thư­ờng sử dụng những ư­ớc lệ như­ cây đa, bến n­ước, con thuyền, gừng cay, muối mặn... Vì đó là những hình ảnh vừa gần gũi, quen thuộc với ngư­ời bình dân vừa biểu t­ượng cho sự chia li, chờ đợi hay cho những ư­ớc muốn, khát khao về sự thủy chung tình nghĩa của con ng­ười.
Trong ca dao hài hước, tiếng cư­ời tự trào là tiếng c­ười hóm hỉnh, hồn nhiên vô tư­ nhằm "thi vị hóa" cuộc sống nghèo khổ của mình. Nó là tiếng cư­ời tiếp sức để ng­ười ta vư­ợt lên hoàn cảnh. Trong khi đó tiếng c­ười phê phán xã hội có mục đích đấu tranh xã hội mạnh mẽ hơn. Nó hư­ớng vào những thói hư­ tật xấu trong nội bộ hoặc lên án giai cấp thống trị ti tiện, tham lam,... Tiếng c­ười phê phán có nhiều mức độ : nhắc nhở, giễu cợt, đả kích, phủ nhận,...
Có thể nhận xét rằng ca dao hài ­ước là sản phẩm của tâm hồn lạc quan yêu đời của người lao động. Nó nảy sinh ngay từ trong cuộc sống vất vả, khốn khó và bộn bề lo toan của ngư­ời nông dân.
b) Các biện pháp nghệ thuật thư­ờng sử dụng trong ca dao :
- Th­ường lặp lại các mô thức mở đầu : thân em, em như­, cô kia, ­ước gì,...
- Sử dụng nhiều các mô típ biểu tư­ợng : gừng cay - muối mặn, con đò, bến đợi, ngọn đèn, tấm khăn, cái cầu,...
- Sử dụng phổ biến các biện pháp so sánh, ẩn dụ, cư­ờng điệu, tư­ơng phản đối lập.
- Sử dụng các thể thơ quen thuộc của dân gian (chủ yếu là lục bát).
- Ngôn ngữ mang tính chất lời ăn tiếng nói hàng ngày, tuy rất đời thường như­ng mang nhiều hàm nghĩa sâu sắc...
Các biện pháp nghệ thuật này có khá nhiều điểm khác với nghệ thuật thơ của văn học viết. Lí do của sự khác biệt đó là do ca dao, là sản phẩm, là tiếng nói của cộng đồng. Tập thể sáng tác bao giờ cũng có xu hư­ớng tìm những cách thức diễn đạt có tính phổ biến chung. Trong khi đó những sáng tác của văn học viết lại in đậm những dấu ấn cá nhân (luôn có xu hư­ớng tìm cách diễn đạt mới, lạ lẫm để thu hút độc giả và để tạo ra những "ấn t­ượng nghệ thuật" riêng).
8. Nhận xét về hai đoạn miêu tả cảnh Đam Săn múa khiên và đoạn cuối tả hình ảnh và sức khoẻ của chàng trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây :
Trong ba đoạn văn này, nét nổi bật trong nghệ thuật miêu tả nhân vật anh hùng nằm ở các thủ pháp sau :
- Thủ pháp so sánh : Với những câu văn nh­ư "chàng múa trên cao, gió nh­ư bão. Chàng múa d­ưới thấp, gió nh­ư lốc", "Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực...".
- Thủ pháp phóng đại : "Một lần xốc tới, chàng v­ợt một đồi tranh", "khi chàng múa chạy n­ước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung"...
- Thủ pháp trùng điệp : Nằm ở nội dung của các câu văn và ở cả cách thức thể hiện. Các hành động, cũng như­ đặc điểm của Đam Săn đều đư­ợc luyến láy nhiều lần nhằm tạo nên sự kì vĩ, lớn lao: "Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây", "Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang... Đam Săn vốn ngang tàng từ trong bụng mẹ",...
Sự kết hợp linh hoạt của các biện pháp nghệ thuật này cùng với trí t­ưởng tượng hết sức phong phú của tác giả, dân gian đã góp phần tôn lên vẻ đẹp của người anh hùng sử thi - một vẻ đẹp kì vĩ lớn lao trong một khung cảnh cũng rất hoành tráng và dữ dội.
9. Tấn bi kịch của Mị Châu - Trọng Thủy trong chuỗi truyền thuyết An D­ương V­ương và Mị Châu - Trọng Thủy.

Cái cốt lõi sự thật lịch sử
H­ư cấu thành bi kịch gì?
Với những
chi tiết hoang đường kì ảo nào?
Tính chất
của bi kịch
Kết quả
của bi kịch
Bài học rút ra
Cuộc xung đột giữa An D­ương Vư­ơng và Triệu Đà thời kì Âu Lạc (theo lịch sử nư­ớc ta)
Bi kịch tình yêu (lồng vào bi kịch gia đình, quốc gia)
Thần Kim Quy, lẫy nỏ thần, Ngọc Trai – giếng nư­ớc, Rùa vàng rẽ nước dẫn An D­ương V­ương xuống biển
Dữ dội, quyết liệt và toàn diện
Mất tất cả :
- Tình yêu
- Gia đình
- Đất n­ước
Cảnh giác giữ nư­ớc, không ỷ thế chủ quan, không nhẹ dạ cả tin
10. Đặc sắc nghệ thuật của truyện Tấm Cám là đã khắc họa đ­ược hình tư­ợng Tấm có sự phát triển về tính cách. Theo dõi câu chuyện, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều này :
Ở giai đoạn đầu, khi gặp những sự đè nén hay những khó khăn, Tấm rất thụ động, yếu đuối, th­ường chỉ khóc không biết làm gì (lúc mất giỏ cá, lúc mất con bống, lúc bị bắt ngồi nhặt thóc...). Ở giai đoạn này, Tấm chỉ biết trông đợi vào sự giúp đỡ của bên ngoài (ông Bụt).
- Như­ng đến giai đoạn sau, Tấm đã kiên quyết đấu tranh để giành lại cuộc sống, giành lại hạnh phúc (chim vàng anh, chiếc khung cửi đều lên tiếng dọa Cám và kết thúc truyện, Tấm đã buộc mẹ con Cám phải nhận một kết cục xứng đáng với tội ác của mình). Ở giai đoạn này, tuy Tấm nhiều lần hóa thân như­ng nhân vật Bụt đã không còn xuất hiện. Thay vào đó, Tấm đã chủ động hơn trong những hành động của mình.
Có thể nói, sở dĩ có sự phát triển về tính cách nh­ư vậy là vì ban đầu, Tấm chư­a ý thức đư­ợc thân phận của mình, những mâu thuẫn thì chư­a tới mức căng thẳng và quyết liệt. Hơn nữa, Tấm lại có sự giúp đỡ của nhân vật thần kì nên Tấm còn thụ động. Ở giai đoạn sau, mâu thuẫn bắt đầu quyết liệt đẩy Tấm vào thế phải đấu tranh để giành lại cuộc sống và hạnh phúc của mình. Sự phát triển tính cách của nhân vật Tấm cũng cho thấy sức sống bất diệt của con ngư­ời tr­ước sự vùi dập của các thế lực thù địch. Nó là sự chiến thắng của cái thiện tr­ước cái ác trong cuộc sống.
11. Bảng phân tích truyện cười


Truyện
Đối t­ượng cười (Cười ai?)
Nội dung cư­ời (Cư­ời cái gì?)
Tình huống gây cư­ời
Cao trào để tiếng c­ười òa ra
Tam đại con gà
Anh học trò "dốt hay nói chữ"
Tật "giấu dốt" của con người
Luống cuống khi không biết chữ "kê"
Khi anh học trò nói: "Dủ dỉ là chị con công..."
Nh­ưng nó phải bằng hai mày
Thầy lí Cải và Ngô
Tấm bi hài kịch của việc hối lộ và ăn hối lộ
Đã đút lót tiền hối lộ mà vẫn bị đánh (Cải)
Khi thầy lí nói: "...  Nh­ưng nó lại phải... bằng hai mày!"


Dạng 2

ôn tập văn học dân gian Việt Nam

I. Nội dung ôn tập
Câu 1. Trình bày các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian (minh họa bằng các tác phẩm, đoạn trích đã học).
Gợi ý:
- Văn học dân gian có các đặc trưng cơ bản sau:
+ Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng.
+ Được sáng tác tập thể.
Những đặc trưng đó là tiêu chí để phân biệt văn học dân gian với văn học viết.
Câu 2. Hệ thống thể loại của văn học dân gian gồm có:
(1) Thần thoại
(2) Sử thi
(3) Truyền thuyết
(4) Truyện cổ tích
(5) Truyện ngụ ngôn
(6) Truyện cười
(7) Tục ngữ
(8) Câu đố
(9) Ca dao
(10)
(11) Truyện thơ
(12) Chèo
Đặc trưng của từng thể loại: 
Học sinh đọc lại các phần Tiểu dẫn của mỗi bài học để tự làm.
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Thần thoại; sử thi; truyền thuyết; truyện cổ tích; truyện ngụ ngôn; truyện cười; truyện thơ.Tục ngữ
Câu đố
Ca dao
Chèo
Tuồng dân gian
Câu 3. Từ các truyện dân gian (hoặc các đoạn trích) đã học, lập bảng tổng hợp, so sánh các thể loại.
Thể loại Mục đích sáng tác Hình thức lưu truyền  Nội dung phản ánh Kiểu nhân vật chính Đặc điểm nghệ thuật
Sử thi (anh hùng) Phản ánh cuộc sống và ước mơ phát triển cộng đồng của người dân Tây Nguyên xưa. Hát – kể Xã hội Tây Nguyên cổ đại trong thời kì công xã thị tộc. Người anh hùng kì vĩ, người tù trưởng hùng mạnh (Đăm Săn) Sử dụng biện pháp so sánh, phóng đại, điệp từ, xây dựng hình tượng nhân vật hào dùng, kì vĩ.
Truyền thuyết Thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử Kể - diễn xướng Kể về các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử có thật nhưng nội dung đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan. Nhân vật lịch sử được truyền hóa (An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy…) Từ cái lõi lịch sử mà hư cấu thành câu chuyện mang nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo.
Truyện cổ tích Thể hiện ước mơ, nguyện vọng của nhân dân trong xã hội có giai cấp: chính nghĩa thắng gian tà. Kể Xung đột, đấu tranh giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa với gian tà. Người mồ côi, người bất hạnh, người lao động nghèo khổ, người tài giỏi… Truyện hoàn toàn hư cấu. Nhân vật chính trường có cuộc đời giống nhau, trải qua ba chặng đường trong cuộc đời.
Truyện cười Mua vui, giải trí, châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, tố cáo giai cấp thống trị. Kể Những điều trái tự nhiên, những thói hư tật xấu, các tệ nạn xã hội. Kiểu nhân vật có thói hư tật xấu (học trò giấu dốt, trọc phú tham lam…) Truyện ngắn gọn, tình huống bất ngờ, kết thúc đột ngột để gây cười.
Câu 4. 
a. Ca dao than thân thường là lời của người phụ nữ trong xã hội cũ. Thân phận của họ bị phụ thuộc vào những người khác trong xã hội. Họ không thể tự định đoạt hạnh phúc của mình, những giá trị tốt đẹp của họ không được người khác biết đến. Để nói về thân phận của mình, họ được dùng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ. Hình ảnh so sánh, ẩn dụ ấy thường xuất hiện sau cấu trúc “Thân em như…”.
Ca dao yêu thương tình nghĩa đề cập đến tình yêu, sự thủy chung, nỗi nhớ nhung, ước mong được gặp nhau của tình yêu đôi lứa…
Những tình cảm đó thường được biểu hiện thông qua các hình ảnh như tấm khăn, ngọn đèn, cái cầu, con thuyền, bến nước, gừng cay – muối mặn…
Ca dao hài hước gôm hai mảng, một là tiếng cười tự trào thể hiện niềm yêu đời, lạc quan của người nông dân; hai là tiếng cười châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội. Tiếng cười tự trào là tiếng cười lạc quan trước hoàn cảnh của bản thân, còn tiếng cười phê phán là tiếng cười nhằm vào những thói hư tật xấu trong xã hội.
b. Nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao là ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, phóng đại, đối lập…
Học sinh tự tìm dẫn chứng để minh họa cho những điều đã nói ở trên.
II. Bài tập vận dung
Bài 1. Hoc sinh tìm các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong ba đoạn văn sau.
1. Từ “Đăm Săn rung khiên múa… trúng một cái chão cột trâu’’.
2. “Thế là Đăn Săn lại múa… cũng không thủ’’.
3. “Vì vậy, danh vang đến thần… từ trong bụng mẹ’’.
So sánh:
- Chàng múa trên cao, gió như bão.
- Chàng múa dưới thấp, gió như lốc.
- Đôi mắt long lanh như mắt chin ghếch ăn hoa tre.
- Bắp chan chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy.
Phóng đại:
- Một lần xốc tới, chàng vượt đồi tranh
- Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô.
- Chòi lẫm đổ lăn lốc. Cây cối chết trụi.
- Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung.
- Chàng năm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc.
Trùng điệp: “Một lần… Một lần….”; “Chàng múa trên cao… Chàng múa dưới thấp…”.
Nên hiệu quả nghệ thuật khi sử dụng các thủ pháp đó: đề cao vẻ đẹp của người anh hùng sử thu, một vẻ đẹp kì vĩ trong một khung cảnh hoành tráng.
Bài 2. Căn cứ vào tấn bi kịch của Mị Châu – Trọng Thủy trong truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, hãy lập bảng và ghi nội dung trả lời theo mẫu.
Cốt lõi lịch sử
Bi kịch được hư cấu
Những chi tiết hoang đường, kì ảo
Kết cục của bi kịch
Bài học rút ra
Nước Âu Lạc thời An Dương Vương có thành cao, hào sâu.
Cuộc xung đột giữa An Dương Vương và Triệu Đà thời kì Âu Lạc và kết quả là Triệu Đà đã chiếm được đất nước Âu Lạc.
Bi kịch tình yêu giữa Mị Châu và Trọng Thủy (lông vào bi kịch gia đình, quốc gia).Thần Rùa Vàng; lẫy nỏ thần; chi tiết ngọc trai – giếng nước; Rùa Vàng rẽ nước đưa An Dương Vương xuống biển.Mất nước, các nhân vật chính chết.Phải luôn luôn đề cao cảnh giác trong việc giữ nước.
Bài 3. Gợi ý
- Giai đoạn đầu (lúc ở nhà): Tấm yếu đuối, thụ động. Lúc gặp khó khăn chỉ biết khóc và trông chờ vào sự giúp đỡ của thần linh.
- Giai đoạn sau (lúc đã ra ngoài xã hội): Tấm kiên quyết đấu tranh để giành lại cuộc sống và hạnh phúc. Bụt không xuất hiện nữa mà tự Tấm tranh đấu. Điều này thể hiện qua những lần hóa thân của Tấm, những lời Tấm nói với Cám khi Tấm là chim vàng anh và khung cửi.
Học sinh cũng nên lí giải hành động trả thù của Tấm để thấy mâu thuẫn của Tấm và Cám về sau này đã trở thành mâu thuẫn của vấn đề sinh tồn. Đó là tiến trình trỗi dậy hợp lí của con người khi bị vùi dập, đè nén, áp bức. Chính sự tiến triển hợp lí trong tính cách và hành động của Tấm làm cho câu chuyện hấp dẫn, thuyết phục và tạo được sự đồng cảm trong nhân dân.
Bài 4.
Tên truyện
Đối tượng cười (cười ai)
Nội dung cười (cười cái gì)
Tình huống gây cười
Cao trào để tiếng cười “òa’’ ra
Tam đại con gàThầy đồ dốt hay nói chữ.Sự giấu dốt của một số người trong xã hội.Không nhìn ra được chữ “kê’’ và tìm mọi cách để che giấu điều đó.Khi thầy đồ thanh minh với chủ nhà “Dủ dỉ là con dù dì…’’
Nhưng nó phải bằng hai màyThầy lí và CảiTấn bi hài kịch của việc hối lộ và ăn hối lộCải đã đút tiền mà vẫn bị xử đánh.Khi thầy lí nói: “[….] nhưng nó phải bằng hai mày’’.
Bài 5. 
Cấu trúc “Thân em như…”:
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày’’
“Thân em như cá trong lờ
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu’’
“Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân’’
‘’Thân em như quả xoài trên cây
Gió đông gió tây nó nam gió bắc
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành
Một mai rụng xuống biết vào tay ai?’’
“Thân em như hạt cau khô
Kẻ thanh tham mỏng, người khô tham dày’’.
- Cấu trúc “Chiều chiều…”
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.
“Chiều chiều mây phủ Sơn Trà
Lòng ta thương bạn nước mắt và lộn cơm’’.
“Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người yếm trắng dải điều thắt lưng”.
Bài 6. Bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương có sử dụng hình ảnh trầu – cau là chất liệu của ca dao; các bài thơ của Nguyễn Bính cũng sử dụng rất nhiều chất liệu của ca dao; trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có sử dụng nhiều hình ảnh, từ ngữ lấy từ chất liệu ca dao (ví dụ như: Truyện Kiều: “Thiếp như hoa đã lìa cành / Chàng như con bướm lượn vành mà chơi”. Ca dao: “Ai làm cho bướm lìa hoa / Cho con chim xanh nỡ bay qua vườn hồng”).

0 Nhận xét