Xem Ngay

Bài Qua Đèo Ngang Ngữ Văn Lớp 7

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 7 Bài Qua Đèo Ngang
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 7, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.
                                                  Dạng 1

QUA ĐÈO NGANG

Bà Huyện Thanh Quan

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1. Tác giả
Bà Huyện Thanh Quan (? - ?), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Bình ngày nay), do đó có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là một nữ sĩ vào loại tài danh hiếm có thời phong kiến. Tác phẩm của bà hiện còn lại sáu bài thơ trong đó có bài Qua Đèo Ngangnổi tiếng. 
2. Thể loại
Bài thơ này được viết theo thể thất ngôn bát cú. Đây là một trong hai dạng cơ bản, phổ biến nhất của thơ Đường luật, gồm thất ngôn bát cú (7 chữ, 8 câu) và thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ, 4 câu). Thơ thất ngôn bát cú Đường luật có những quy định rất chặt chẽ về bố cục (tổ chức cơ bản về nội dung và hình thức), luật (quy định về vần, thanh trong cả bài, đối giữa các cặp câu 3 - 4, 5 - 6), niêm (sự liên kết giữa các câu 1 - 8, 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7).
II. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ, về cách gieo vần và về phép đối.
Gợi ý: Dựa vào phần giới thuyết thể thơ ở trên, tự kiểm tra về số câu, số chữ, cách gieo vần và phép đối của bài thơ. 
2. Cảnh vật được miêu tả và lúc chiều tà. Thời điểm đó dễ gợi lên tâm trạng buồn, cô đơn nhất là với người lữ thứ.
3. Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết: cỏ cây, hoa lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, tiếng chim quốc, chim đa đa, có vài chú tiều phu. Các chi tiết này cho thấy cảnh Đèo Ngang um tùm, rậm rạp. Con người thì ít ỏi, thưa thớt. Các từ láy: lom khom, lác đác, các từ tượng thanh: quốc quốc, đa đa có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm và càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.
4. Cảnh Đèo Ngang là cảnh thiên nhiên, núi đèo bát ngát, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng rất hoang sơ. Cảnh được miêu tả vào lúc chiều tà, lại được nhìn từ tâm trạng của kẻ xa quê nên cảnh gợi lên cảm giác buồn, hoang sơ, vắng lặng.
5. Có thể thấy, ấn sâu kín trong bức tranh thiên nhiên là tâm trạng của người lữ thứ (Bà Huyện Thanh Quan). Đó là tâm trạng buồn, cô đơn, hoài cổ. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được tiếng kêu da diết của chim quốc, chim đa đa cũng chính là tiếng lòng tha thiết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước. Câu thơ cuối cùng chính là cao trào của nỗi buồn, nỗi cô đơn của người khách xa quê.
6. Giữa cảnh trời, non, nước và một mảnh tình riêng có quan hệ đối lập nhau. Cảnh càng rộng lớn thì tình càng cô đơn, con người càng nhỏ bé. Như thế, rõ ràng cảnh góp phần khiến nỗi cô đơn của tác giả càng lớn hơn, nặng nề hơn.
III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Cách đọc
Đọc một bài thơ thất ngôn bát cú, trước hết phải chú ý đọc đúng nhịp (4/3), sau nữa là chú ý đến phép đối trong hai cặp 3 - 4, 5 - 6. Riêng với bài thơ này, cần chú ý đọc chậm, diễn cảm, thể hiện được nỗi buồn sâu lắng của tác giả.
2. Tìm hàm nghĩa của cụm từ ta với ta.
Gợi ý: nghĩa của từng từ và của cả cụm là:
- Từ ta thứ nhất và từ ta thứ hai đều chỉ bản thân người nói.
- Vì thế, ta với ta có nghĩa là không có ai khác (chỉ có một mình tác giả mà thôi)



Dạng 2:

Bài qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan
I. Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật :
- Đường luật : luật thơ có tự đời Đường (618 – 907) ở Trung Quốc.
- Số câu : 8 câu (bát cú)
- Số chữ : 7 chữ trong mỗi dòng thơ (thất ngôn)
- Hiệp vần : ở chữ cuối của câu 1 – 2 – 4 – 6 -8 tất cả đều vần bằng và một vần duy nhất (còn gọi là độc vần) : tà – hoa – nhà – gia – ta (vần a).
- Phép đối : trong mỗi bài thơ có 2 cặp câu đối nhau về cả nghĩa lần thanh điệu : câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.
- Ví dụ :
Câu 2. 
- Cảnh Đèo Ngang được miêu tả vào thời điểm xế tà, lúc chiều tàn của một ngày.
- Thời điểm chiều tà thường gợi lên sự buồn vắng, cô đơn, đặc biệt là đối với những người bộ hành xa quê, thân gái dặm trường như bà lại càng buồn hơn, cô đơn hơn.
Câu 3.
- Khung cảnh Đèo Ngang :
+ Không gian : Nơi heo hút, vắng vẻ, hoang sơ, cây cối um tùm rậm rạp ‘cỏ cây chen đá lá chen hoa’’. Núi non trùng trùng điệp điệp, biên cả mênh mông tiếp giáp dưới chân núi, khung cảnh hùng vĩ, rộng lớn.
+ Thời gian : chiều tà, ngày hết = > buồn vắng.
- Âm thanh :
Chim đa đa - > gợi nỗi nhớ nhà
Chim quốc quốc - > nỗi niềm nhớ nước
= > Âm thanh tăng thêm sự vắng lặng, hiu quạnh, não nùng.
- Cuộc sống con người :
+ tiều vài chú lom khom : nhỏ bé, ít ỏi.
+ chợ mấy nhà : thưa thớt, lèo tèo, xiêu vẹo.
Câu 4. Cảnh tượng đèo Ngang qua sự miêu tả Bà Huyện Thanh Quan là một cảnh tượng đẹp, hùng vĩ nhưng hoang sơ, buồn vắng, hiu quạnh và thiếu sự sống của con người.
Câu 5. Tâm trạn của Bà Huyện Thanh Quan được thể hiện qua hai hình thức :
- Mượn cảnh nói tình : thông qua thời gian và không gian hình thức :
+ Gia gia – vừa mô phỏng tiếng chim như đồng âm với nó còn có nghĩa là nhà. Nỗi nhớ nhà đang trào dâng trong lòng người nữ sĩ xa quê, trong cảnh chiều hôm người ta tìm về mái ấm gia đình, còn bà lại đang dừng chân chống hoang sơ hiu quạnh, nhớ nhà là phải lắm.
+ Con quốc quốc – mô phỏng tiếng chim kêu và đồng âm với nó quốc quốc là đất nước, Tổ quốc. Bà là nho sĩ xứ Bắc Hà quặn lòng nhớ về Thăng Long xưa, nhớ về quá khứ của đất nước lúc còn hưng thịnh, lúc triều Nguyễn chưa dời kinh đô vào Huế.
- Trực tiếp tả tình :
Thể hiện qua câu cuối của bài thơ :
Một mảnh tìn riêng ta với ta
Mảnh tình riêng đó thật sâu sắc, thấm thía.
Câu 6. 
II. Luyện tập
Câu 1. Tìm hàm nghĩa của cụm từ ta với ta.
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
- Bà Huyện Thanh Quan bước tới Đèo Ngang – trên đầu là trời cao lồng lộng. Sau lưng núi non trùng điệp, trước mặt là biển cả mênh mông, những không gian to lớn, vô hạn của vụ trụ đối với sự hữu hạn, nhỏ bé, mong manh của người phụ nữ.
- Ta với ta – Niềm cô đơn đi tìm người chia sẽ nhưng lại gặp chính sự cô đơn của mình. Ta ở đây cũng chỉ một người, sự cô đơn đến tuyệt đối. Sau câu thơ là sự trống vắng đến mênh mông.
Nàng giữ nỗi cô đơn kiêu hãnh thế
Cầm chặt vần thơ đứng giữa không gian.
(Nguyễn Bùi Vợi)
Câu 2. Học thuộc lòng bài thơ.
0 Nhận xét