Xem Ngay

Bài Có bệnh bảo mọi người ngữ văn 10

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 10  Bài Có bệnh bảo mọi người
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 10, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.


                                                                       Dạng 1

CÁO BỆNH, BẢO MỌI NGƯỜI
(Cáo tật thị chúng)
MÃN GIÁC THIỀN SƯ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Mãn Giác thiền sư (1052 – 1096) tên là Lí Trường, sinh thời được Thái hậu và vua rất trọng dụng.
2. Cáo tật thị chúng (nhan đề do người đời sau đặt) là một bài kệ. Kệ là một thể văn của Phật giáo dùng để truyền bá giáo lí Phật pháp. Kệ được viết bằng văn vần, nhiều bài có giá trị văn chương như các bài thơ.
3. Cáo tật thị chúng là một triết lí phật giáo nhưng cũng là một quan niệm nhân sinh. Bài thơ thể hiện cảm giác tiếc nuối thời gian. Thời gian trôi đi, tuổi già đến, con người không thể sống vô nghĩa. Con người với lòng yêu đời đã có một cái nhìn rất lạc quan về cuộc sống.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. a) Bốn câu thơ đầu nói lên quy luật hoá sinh của tự nhiên, của con người; hoa cũng như con người không bao giờ đứng yên, bất biến. Sự sống luôn  là một vòng quay luân hồi.
  Nếu đảo ngược vị trí câu thơ thứ hai lên đầu thì mặc dù vẫn nói lên được quy luật tuần hoá biến đổi nhưng đó sẽ là nhìn sự vận động theo quy luật xuân tới để xuân qua, hoa tươi để hoa rụng, chứ không theo quy luật sinh trưởng phát triển tự nhiên (xuân qua rồi xuân tới, hoa rụng rồi hoa tươi).
b) Câu ba và câu bốn nói lên quy luật của đời người - quy luật : sinh, lão, bệnh, tử theo quan niệm của đạo Phật. Con người cùng với thời gian trôi thì tuổi trẻ sẽ qua đi và tuổi già ắt đến. Tuổi già đến trên đầu mà thời gian thì không ngừng trôi chảy (trước mắt việc đi mãi). Vì thế cuộc đời con người trong khoảnh khắc có khác gì ảo ảnh. Hai câu thơ  có chút bâng khuâng nuối tiếc vì thời gian của vũ trụ thì vô thuỷ vô chung còn thời gian của đời người thì ngắn ngủi.
2. Trong hai câu  thơ cuối, tác giả mượn việc miêu tả thiên nhiên mà nói đến một quan niệm triết lí trong Phật giáo ; khi con người đã giác ngộ đạo (hiểu được chân lí và quy luật) thì có sức mạnh lớn lao, vượt lên trên cả lẽ sinh diệt thông thường. Thiền sư đắc đạo trở về với bản thể vĩnh hằng, không sinh, không diệt như  nhành mai kia cứ tươi bất kể xuân tàn. Theo cách giải  thích này nội dung ý tức của hai câu thơ cuối không hề có chút gì mâu thuẫn với nhau.
3. Bài thơ thể hiện rất rõ lòng yêu đời với cái nhìn lạc quan của nhà thơ. Niềm yêu đời, niềm lạc quan tươi sáng ấy được thể hiện qua cách nói khẳng định, qua các hình tượng thiên nhiên mang vẻ đẹp tươi tắn, gợi lên sự cảm nhận về sự sống sinh sôi và bất diệt. Quy luật của cuộc đời là sinh – tử – sinh nhưng bài thơ mở đầu  bằng “xuân tàn” và kết thúc bằng “một nhành mai” tươi. Đó là một cách nhìn lạc quan.
Lời kệ được viết khi nhà thơ đau bệnh nhưng nó vẫn toát lên sự bình thản yêu đời, xuất phát từ một thể trạng tinh thần khoẻ mạnh, đầy bản lĩnh, đạt đến độ tự tại ung dung.

4.  Trong  quan niệm của người xưa, hoa mai là loài hoa chịu được cái giá rét của mùa đông. Trong sương tuyết lạnh, mai vẫn nở hoa, báo hiệu cho mùa xuân đến. Hoa mai tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, thử thách, gian nan. Hình tượng hoa mai vì thế tượng trưng cho sức sống bất diệt của con người.


Dạng 2
 cáo bệnh, bảo mọi người của Mãn Giác
 (Cáo thật thị chúng)
 I. Gợi ý trả lời câu hỏi 
Câu 1. Hai câu thơ đầu nói lên quy luật nào của tự nhiên? (Quy luật vận động biến đổi? Quy luật tuần hoàn? Quy luật sinh trưởng?). Nếu đảo câu thơ 2 lên vị trí câu thơ đầu thì ý thơ khác nhau như thế nào? Đảo như thế, trong những quy luật trên, quy luật nào giữ nguyên, quy luật nào bị ảnh hưởng. Vì sao? Hai câu thơ này nói lên quy luật hóa sinh của tự nhiên. Hoa cũng như người, không thể mãi đứng yên, bất biến. Tất cả đều vận động theo một quy luật biến đổi tuần hoàn, có sinh rồi có diệt. Đó là lẽ tự nhiên của mọi vật trong trời đất. Nếu ta đảo câu thơ 2 lên vị trí câu thơ đầu thì ý thơ sẽ thay đổi. Ở đây tác giả nhìn nhận tự nhiên theo quy luật: xuân qua rồi thì xuân sẽ tới, hoa rụng rồi sẽ có hoa tươi. Một cái nhìn hết sức lạc quan. Theo cách nhìn này thì vòng đời cứ thế mở ra, cái sau tiếp nối cái trước. Bánh xe luân hồi không ngừng chuyển động. Vong sau tươi đẹp hơn vòng trước. Nếu đảo câu 2 lên vị trí của câu đầu thì quy luật tự nhiên ở đây được nhìn nhận theo cách nhìn hoàn toàn khác: xuân tới rồi xuân qua, hoa tươi rồi hoa rụng. Cách nhìn này đi theo chiều hướng khác, một cái nhìn bi quan. Vòng luân hồi như bị khép lại.
 Câu 3. Câu thơ 3 và 4. Trước mắt việc đi mãi Trên đầu già đến rồi. Là hai câu thơ nói lên quy luật tự nhiên của vòng đời con người theo quan niệm Phật giáo: sinh, lão, bệnh, tử. Trong khi đó, dòng thời gian cứ trôi, vô thủy vô chung, không chờ đợi ai. Thời gina là vô tận, không gian là mênh mông và cuộc sống con người chỉ như một khoảnh khắc… hai câu thơ như một tiếng thở dài nuối tiếc khe khẽ. Mặc dù sư Mãn Giác đã hiểu được hết, nắm được hết các quy luật hóa sinh trong cuộc đời nhưng vẫn không thể không tiếc nuối, xót xa trước bước đi của thời gian. Tâm trạng tiếc nuối đó bắt nguồn từ sự tha thiết đối với cuộc sống, cái mong muốn dâng hoa, cái mật cho đời mãi cuộn dâng trong lòng tác giả. Con người hiểu được, ý thức được cái ngắn ngủi nhưng quý giá của cuộc đời nên đã không sống hoài, sống phí mà sống một cách đầy ý nghĩa, sống hết kích thước cuộc sống và sẽ tìm được mùa xuân vĩnh cửu trong tâm hồn.
 Câu 3. Hai câu thơ cuối có phải là tả thiên nhiên không? Câu thơ đầu khẳng định “Xuân qua, trăm hoa rụng” vậy mà hai câu cuối lại nói xuân tàn vẫn nở hoa. Như thế có mâu thuẫn không? Vì sao? Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng cành mai trong câu thơ cuối? Hai câu thơ cuối này không đơn thuần chỉ là miêu tả thiên nhiên mà qua hai câu thơ cuối này cho ta thấy một quan niệm phật giáo hết sức minh triết được rút ra: khi con người đã giác ngộ đạo (cũng có nghĩa là đã hiểu chân lí, nắm được quy luật của cuộc đời thì có thể có được sức mạnh lớn lao, vượt lên trên lẽ hóa sinh thông thường. Như thiền sư đã đắc đạo trở về với bản thể vĩnh hằng, không sinh, không diệt, như cành mai kia vẫn đơm bông bất chấp xuân tàn. Ở hai câu thơ đầu, tác giả đã khẳng định “Xuân qua, trăm  hoa rụng” nhưng trong câu thơ này hình ảnh một cành mai phơi phới hiện ra bất chấp xuân tàn là một sự vô lí, vô lí nhưng lại mang một ý nghĩa triết lí sâu sắc, toát lên niềm lạc quan tươi sáng, gợi nên một sự sinh sôi bất diệt, sự sống dồi dào và tươi mới luôn có thể vượt qua được mọi hoàn cảnh để vui sống, khẳng định một niềm tin bất diệt vào tương lai. Cành mai báo hiệu mùa xuân hiện ra ở cuối bài thơ vượt qua sương giá mà nở hoa mang một ý nghĩa thâm sâu và tinh vi như cái thẳm sâu của Phật pháp vậy. 
Câu 4. Qua bài kệ, anh (chị) hãy làm sáng tỏ lòng yêu đời và cái nhìn lạc quan của tác giả. Bài thơ toát lên niềm yêu đời, lạc quan và tràn đầy niềm tin vào cuộc sống của mãn giác thiền sư. Từ sự hiểu được những quy luật hóa sinh đến việc chấp nhận nó, thuận theo tự nhiên và sống lạc quan an nhiên và tự tại. Hai câu cuối khái quát nên nội dung của toàn bài. Những từ ngữ mạnh, mang nặng tính khẳng định như “chớ bảo”, “một cành mai” khiến thời thơ cô đọng. Từ việc nhìn thấy cái lẽ sinh – tử của đời người, cất lên những tiếng thở dài cho đến cái nhìn phóng khoáng, thông tuệ, tràn ngập ánh sáng của một ngày mới chứng tỏ ở Mãn Giác thiền sư đã có sự giác ngộ sâu sắc. Cành mai cuối bài hiện ra như sự tiếp nối cho vòng xoay của bánh xe luân hồi: điểm khởi đầu của bài thơ là “xuân tàn” và kết thúc là một hình ảnh đầy sức gợi – “cành mai” hiện ra thể hiện một lối tư duy, một cái nhìn mang đậm tinh thần lạc quan của tác giả.

0 Nhận xét