Xem Ngay

Bài Các phương châm hội thoại (tiếp theo) Ngữ Văn 9

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 9 Bài Các phương châm hội thoại (tiếp theo)
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 9, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.


Dạng 1 
CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI (TIẾP THEO)

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Phương châm quan hệ
- Nói như thế nào thì bị xem là Ông nói gà, bà nói vịt?
- Trong hội thoại mà Ông nói gà, bà nói vịt thì điều gì sẽ xảy ra?
- Vậy, trong giao tiếp phải chú ý điều gì để tránh tình trạng Ông nói gà, bà nói vịt?
Gợi ý: Thành ngữ Ông nói gà, bà nói vịt chỉ hiện tượng không thống nhất, không hiểu người khác nói gì dẫn đến tình trạng trật khớp, lệch lạc trong giao tiếp. Để tránh tình trạng này, khi hội thoại phải nói đúng vào đề tài giao tiếp, nói đúng vào vấn đề cùng quan tâm. Đó chính là phương châm quan hệ trong hội thoại.
2. Phương châm cách thức
a) Nói như thế nào thì bị xem là Dây cà ra dây muốngLúng búng như ngậm hột thị?
- Nói mà Dây cà ra dây muốngLúng búng như ngậm hột thị thì sẽ dẫn đến điều gì trong giao tiếp?
- Phải nói như thế nào để tránh tình trạng trên?
Gợi ýDây cà ra dây muống - nói lan man, dài dòng, không có trọng tâm; Lúng búng như ngậm hột thị - nói ấp úng, không rõ ràng, thiếu rành mạch. Nói như thế sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả giao tiếp: không thể hiện được nội dung muốn truyền đạt, gây khó khăn cho người tiếp nhận. Trong hội thoại cần chú ý nói ngắn gọn, rõ ràng, rành mạch.
b) Đọc câu dưới đây và trả lời câu hỏi:
Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy.
- Cụm từ “ông ấy” có thể được hiểu theo mấy cách?
- Tại sao không nên diễn đạt như trên?
Gợi ý: Trong câu trên, cụm từ “ông ấy” có thể được hiểu theo hai cách: nhận định của ông ấy và truyện ngắn của ông ấy. Như vậy, nội dung câu nói sẽ trở nên mơ hồ, người nghe khó xác định được chính xác điều người nói muốn nói.
c) Hãy tự rút ra yêu cầu của phương châm cách thức.
3. Phương châm lịch sự
a) Câu chuyện dưới đây muốn nói điều gì?
NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc-ghê-nhép)
Gợi ý
- Nhân vật “tôi” đã cư xử với ông già ăn xin như thế nào?
- Ông già ăn xin đã cư xử với nhân vật “tôi” như thế nào?
- Tại sao cả hai người đều cảm thấy như đã được nhận từ người kia một cái gì đó?
Nhân vật “tôi” không khinh miệt người nghèo khổ, khốn khó mặc dù không có gì để cho; vì thế ông lão ăn xin cảm thấy mình đã được tôn trọng, cảm thông và cả hai người đều thấy hài lòng.
b) Đoạn thơ sau kể về tình huống lần đầu tiên Thuý Kiều gặp Từ Hải, hãy đọc đoạn thơ và nhận xét về thái độ của hai nhân vật này khi đối thoại với nhau.
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh chưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?...”
Thưa rằng: “Lượng cả bao dong,
Tấn Dương được mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội, hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!”
Nghe lời vừa ý gật đầu,
Cười rằng: Tri kỉ trước sau mấy người!
(Nguyễn Du)
Gợi ý
- Thái độ khiêm nhường, tế nhị của Từ Hải (một người anh hùng: Dọc ngang nào biết trên đầu có ai) bộc lộ như thế nào?
- Thái độ nhã nhặn, nhún mình của Kiều thể hiện ra sao?
- Thái độ giao tiếp góp phần tác hợp tri kỉ giữa Từ Hải và Thuý Kiều như thế nào?
c) Tự rút ra yêu cầu của phương châm lịch sự trong giao tiếp.
II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 
1. Cha ông ra khuyên dạy điều gì qua những câu tục ngữ ca dao sau:
- Lời chào cao hơn mâm cỗ
- Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
- Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.
Gợi ý
- Qua các câu tục ngữ, ca dao trên, cha ông ta muốn nhấn mạnh sự quan trọng của thái độ cư xử, khuyên răn khi giao tiếp phải biết lựa chọn lời lẽ nhã nhặn, lịch sự.
uốn câu: uốn lưỡi câu; nghĩa cả câu: không nên dùng những cái quý giá vào những việc tầm thường.
2. Tìm thêm những câu tục ngữ, ca dao có nội dung tương tự như trên.
Gợi ý: Tham khảo một số câu tục ngữ, ca dao sau:
Vàng thì thử lửa thử than,
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.
- Chẳng được miếng thịt miếng xôi
Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng.
- Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
3. Trong các biện pháp tu từ sau đây, biện pháp nào có liên quan trực tiếp đến phương châm lịch sự: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, nói giảm, nói tránh. Cho ví dụ.
Gợi ý: Các biện pháp liên quan trực tiếp đến phương châm lịch sự trong hội thoại là: nói giảmnói tránh. Ví dụ: không nói xấu mà nói chưa được đẹp lắm; không nói chết mà nói mấtqua đời.
4. Đọc những câu sau, chọn những từ ngữ cho bên dưới để điền vào chỗ trống - (…) - sao cho thích hợp. Nội dung các câu này liên quan đến phương châm hội thoại nào?
a) Nói dịu nhẹ như khen, nhưng thật ra là mỉa mai, chê trách là (…)
b) Nói trước lời mà người khác chưa kịp nói là (…)
c) Nói nhằm châm chọc điều không hay của người khác một cách cố ý là (…)
d) Nói chen vào chuyện của người trên khi không được hỏi đến là (…)
e) Nói rành mạch, cặn kẽ, có trước có sau là (…)
(nói mócnói ra đầu ra đũanói leonói mátnói hớt)
Gợi ý: (a) - nói mát; (b) - nói hớt; (c) - nói móc; (d) - nói leo; (e) - nói ra đầu ra đũa. Các câu này liên quan đến phương châm lịch sự và phương châm cách thức.
5. Có khi người ta phải dùng những cách nói như:
a) nhân tiện đây xin hỏi;
b) cực chẳng đã tôi phải nóitôi nói điều này có điều gì không phải anh bỏ quá chobiết là làm anh không vui, nhưng… xin lỗi, có thể anh không hài lòng nhưng tôi phải thành thực mà nói là…;
c) đừng nói leođừng ngắt lời như thếđừng nói cái giọng đó với tôi.
Bằng những hiểu biết về các phương châm hội thoại, hãy giải thích vì sao người ta phải nói như vậy.
Gợi ý
a) Người nói muốn nói sang một đề tài khác nhưng để người nghe không hiểu lầm là mình vi phạm phương châm quan hệ trong hội thoại.
b) Khi buộc phải nói thẳng vào một vấn đề gì đó có thể động chạm đến sĩ diện của người nghe, để đảm bảo phương châm lịch sự người nói phải rào đón như vậy.
c) Cảnh báo về sự vi phạm phương châm lịch sự.
6. Các thành ngữ sau có liên quan đến phương châm hội thoại nào: nói băm nói bổnói như đấm vào taiđiều nặng điều nhẹnửa úp nửa mởmồm loa mép giảiđánh trống lảngnói như dùi đục chấm mắm cáy.
Gợi ý
- Tra từ điển thành ngữ để nắm được nghĩa của các thành ngữ;
- Các phương châm có liên quan trực tiếp:
+ Phương châm lịch sự: nói băm nói bổ; nói như đấm vào tai; điều nặng tiếng nhẹ; mồm loa mép giải; nói như dùi đục chấm mắm cáy;
+ Phương châm cách thức: nửa úp nửa mở:
+ Phương châm quan hệ: đánh trống lảng.
Lưu ý: Việc xếp các thành ngữ vào một phương châm hội thoại nào đó chỉ mang tính tương đối, thường thì các phương châm đều có quan hệ mật thiết với nhau. Cho nên, có thể có trường hợp xếp vào phương châm nào cũng đúng, ví dụ: nói như dùi đục chấm mắm cáy (lịch sự + cách thức). Vấn đề là chúng ta xác định xem nội dung của thành ngữ ấy liên quan tới phương châm nào trực tiếp hơn.
Dạng 2
bài các phương châm hội thoại tiếp theo
I. Phần bài học.
1. Quan hệ giữa phương châm hội thoại và tình huống giao tiếp :
- Trong truyện  cười Chàng rể nhân vật chàng rể đã làm một việc gây phiền hà, quấy rối đến người khác khi họ đang tập trung làm việc. Trong tình huống giao tiếp khác, có thể câu hỏi của anh ta là lịch sự, thể hiện sự quan tâm đến người khác. Nhưng trong tình huốn này lại không thích hợp.
- Có thể rút ra bài học qua câu chuyện là : cần phải chú ý đến đặc điểm của tình huống giao tiếp, vì một câu nói có thể thích hợp trong tình huống này, nhưng không thích hợp trong một tình huống khác. 
Để các phương châm hội thoại có hiệu lực cần nắm được đặc điểm của tình huống giao tiếp : nói với ai ? nói khi nào ? nói ở đâu ?
Câu 2. Những trường hợp không tuân thủ phương châm hội thoại.
a. Trong những ví dụ về các phương châm hội thoại đã biết có hai tình huống trong phần văn học về phương châm lịch sự là tuân thủ đúng, còn lại đều không tuân thủ phương châm hội thoại.
b. Đoạn thoại.
An : Cậu có biết chiếc máy bay đầu tiên được chế tạo vào năm nào không ?
Ba : Đâu vào khoảng thế kỉ XX.
Câu trả lời của Ba không đáp ứng nhu cầu thông tin đúng như An mong muốn.
Trong đoạn thoại, phương châm về lượng không được tuân thủ vì Ba không biết chính xác chiếc máy bay đầu tiên trên thế giới được chế tạo vào năm nào. Để tuân thủ phương châm về chất, Ba phải trả lời chung chung.
c. Khi một bác sĩ nói với một bệnh nhân mắc chứng bệnh nan y về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân thì phương châm về chất có thể không được tuân thủ.
Nhưng bác sĩ phải làm như vậy vì đó là việc làm nhân đạo, cần thiết. Nhờ sự động viên đó mà bệnh nhân có thể lạc quan hơn. Có nghị lực hơn để sống.
Như vậy, không phải sự « nói dối » nào cũng đáng chê trách.
Có thể có nhiều tình huống tương tự như : người chiến sĩ không may sa vào tay giặc, không thể vì tuân thủ phương châm về chất mà khai hết về đồng đội, đơn vị của mình.
Như vậy, phương châm hội thoại có thể không được tuân thủ trong một số tình huống giao tiếp nhất định.
d. Xét về nghĩa hiến ngôn thì câu nói « Tiền bạc chỉ là tiền bạc » không tuân thủ phương châm về lượng, bởi vì nó dường như không cung cấp cho người nghe thêm một thông tin nào. Nhưng xét về nghĩa hàm ẩn thì câu này vẫn đảm bảo tuân thủ phương châm về lượng. Vì nội dung câu có ý răn dạy người ta không nên chạy theo tiền bạc mà quên đi nhiều thứ khác quan trọng, có ý nghĩa thiêng liêng trong cuộc sống.
II. Luyện tập.
Câu 1. Khi cậu bé lên năm hỏi cha quả bóng ở đâu, người cha trả lời « Quả bóng ở ngay dưới cuốn Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao kia kìa » thì câu trả lời của người cha đã không tuân thủ phương châm cách thức.
Một đứa trẻ 5 tuổi không thể nhận biết được « Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao » để nhờ nó mà tìm ra quả bóng. Cách nói của người cha đối với cậu bé là mơ hồ.
Câu 2. Lời nói của Chân, Tay với lão Miệng « Chúng tôi đến đây không phải để thăm hỏi trò chuyện gì với ông, mà để nói cho ông biết : từ này chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Lâu nay chúng tôi khổ cực vì ông nhiều rồi » không tuân thủ phương châm lịch sự. Việc không tuân thủ như vậy là không có lý do chính đáng, không có căn cứ.





0 Nhận xét