Xem Ngay

Bài Hồi trống Cổ Thành ngữ văn 10

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 10  Bài Hồi trống Cổ Thành
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 10, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.
.
                                                                       Dạng 1

HỒI TRỐNG CỔ THÀNH

(Trích hồi 28 Tam quốc diễn nghĩa)
                                                                                          LA QUÁN TRUNG
I – KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. La Quán Trung (1330? 1400?), nhà văn Trung Quốc, tên là La Bản, tự Quán Trung, hiệu Hồ Hải tản nhân, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, sống vào khoảng cuối Nguyên, đầu Minh.
“La Quán Trung với các tác phẩm của mình, đặc biệt là Tam quốc chí diễn nghĩa, đã trở thành người mở đường cho tiểu thuyết lịch sử sau này.”([1])
Về tác phẩm, ngoài Tam quốc chí diễn nghĩa, ông còn viết Tuỳ đường l­ưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện,  vở tạp kịch Tống Thái Tổ long hổ phong vân hội.
2. Tam quốc diễn nghĩa là bộ tiểu thuyết được viết theo kết cấu chương hồi.

“Tiểu thuyết chương hồi: một thể thuộc loại tác phẩm tự sự dài hơi của Trung Quốc, thịnh hành vào đời Minh, Thanh.

Tiểu thuyết chương hồi thoát thai từ thoại bản, một loại tiểu thuyết bạch thoại từ đời Tống... Thoại bản giảng sử thường là trường thiên. Câu chuyện lịch sử dài, phải chia làm nhiều đoạn, kể làm nhiều lần (hồi). Để phân biệt, người ta đặt tiêu đề cho mỗi hồi gọi là “hồi mục”, và để hấp dẫn, người ta ngắt ở những đoạn có tình tiết quan trọng, và kết bằng câu: “Muốn biết sự việc ra sao, xin xem hồi sau phân giải”. Những đoạn ấy thành chương, hồi trong truyện dài.
...Chịu ảnh hưởng kết cấu thoại bản, tiểu thuyết chương hồi có mấy đặc điểm: tr­ước hết, nội dung câu chuyện được thể hiện chủ yếu qua hành động và ngôn ngữ nhân vật hơn là qua sự miêu tả tỉ mỉ về tâm lí, tính cách. Thứ hai, câu chuyện được phát triển qua những tình tiết có xung đột căng thẳng mang nhiều kịch tính. Cuối cùng, nghệ thuật khắc hoạ nhân vật mang nhiều tính ­ước lệ.”([2])
3. Trong đoạn trích Hồi trống Cổ Thành, thông qua sự hiểu lầm của Trương Phi đối với Quan Công, tác giả ca ngợi phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ của Trương Phi: cương trực, trung thành và trọng nghĩa khí – những phẩm chất đáng trân trọng của một trang hảo hán trong xã hội x­ưa.
II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Tìm hiểu khái quát về tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa
Gợi ý: Đây là bộ tiểu thuyết lịch sử dài 120 hồi, ra đời giữa thế kỉ XIV. Tr­ước khi trở thành tiểu thuyết, cốt truyện của nó được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân và được thêm thắt, bổ sung nhiều. Cuối đời Nguyên đầu đời Minh, La Quán Trung thu thập những câu chuyện lưu truyền trong nhân dân, dựa vào những bản chép tay của những nhà viết sử và những tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời tr­ước đó, chỉnh lí lại thành Tam quốc diễn nghĩa.
Phần lớn những sự kiện, nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa lấy từ những câu chuyện, con người có thật trong lịch sử thời Tam quốc. Nhưng do quá trình hình thành phức tạp và chịu sự chi phối của tư tưởng “tôn Lưu biếm Tào” nên những nhân vật và sự kiện đó có khoảng cách khá xa với sự thật lịch sử.
Đoạn trích thuộc hồi thứ 28 của tác phẩm   
2. Tóm tắt phần tr­ước của đoạn trích
Quan Công trúng kế của Tào Tháo, dẫn quân ra ngoài thành Hạ Bì nên bị thất thủ. Ba anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi lạc nhau mỗi người một nơi. Khi Quan Công bị quân Tào bắt, Trương Liêu, một viên  tướng của Tào Tháo là bạn của Quan Công thời trẻ đã đến thuyết phục Quan Công về với Tào Tháo. Quan Công ra ba điều kiện trong đó có một điều kiện là hễ nghe tin Lưu bị ở đâu thì phải để cho Quan Công về ngay với anh. Khi nghe tin Lưu Bị sống ở bên Viên Thiệu, Quan Công đã vượt qua năm cửa ải, chém sáu tướng, đ­ưa hai chị dâu là Cam phu nhân và Mi phu nhân về với Lưu Bị. Trên đường về, đến Cổ Thành, gặp Trương Phi và xung đột đã xảy ra do hiểu lầm.
3. Tìm hiểu bố cục đoạn trích
Gợi ý: Có thể chia đoạn trích làm 5 phần:
- Đoạn 1, phần trình bày (từ đầu đến... bảo Trương Phi ra đón hai chị): Giới thiệu nhân vật, sự việc, hoàn cảnh;
Đoạn 2, phần  khai đoan (từ Trương Phi từ khi... đến... cũng phải theo ra thành):  Mâu thuẫn giữa Trương Phi và Quan Công bắt đầu;
- Đoạn 3, phần phát triển (từ “ Quan Vũ trông thấy Trương Phi ra...   đến... Không phải quân mã là gì kia): Các biến cố tiếp diễn;
- Đoạn 4, phần đỉnh điểm (từ Quan Công ngoảnh lại... đến... Thừa tướng đến bắt mày): Sự xuất hiện của Sái D­ương;
- Đoạn 5, phần mở nút (phần còn lại): Việc Quan Công chém rơi đầu Sái Dương;
Những tình tiết cuối khiến kết cục câu chuyện được giải quyết triệt để hơn, cũng có thể xem phần này thuộc phần mở nút.
4. Phân tích những biện pháp nghệ thuật cơ bản đã được sử dụng để khắc hoạ tính cách nhân vật Trương Phi.
Gợi ý: Nghệ thuật miêu tả ngoại hình  và tính cách nhân vật: qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động, trong quan hệ với các nhân vật khác...
- Ngôn ngữ  miêu tả của tác giả rất phù hợp tính cách nhân vật (“Trương Phi  mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”); ngôn ngữ nhân vật mang đậm nét tính cách vốn có: bộc trực, nóng nảy.
- Hành động nhanh gấp.
- Các nhân vật khác: Tôn Càn, Cam phu nhân, Mi phu nhân ra sức thanh minh cho Quan Công nhằm ngăn hành động vội vàng của Trương Phi nhưng không làm Trương Phi thay đổi suy nghĩ. Chứng tỏ lúc này Trương Phi cũng cẩn trọng trong suy nghĩ chứ không phải nóng vội như bình thường nữa. Nguyên do vì đây là vấn đề hết sức hệ trọng, lời thề trung nghĩa đối với các đấng trư­ợng phu quả là thiêng liêng.
5. Phân tích tính cách nhân vật Trương Phi
Gợi ý:
Trương Phi vốn là người cương trực, nóng nảy, suy nghĩ đơn giản. Nhưng ở đoạn này, Trương Phi không dễ dàng nghe lời thanh minh của Tôn Càn hay sự bênh vực Cam phu nhân và Mi phu nhân đối với Quan Công. Chứng tỏ, sự nghi ngờ trong Trương Phi rất lớn, tr­ước vấn đề hệ trọng, Trương Phi quả là rất cẩn trọng. Bởi thế, chỉ có một cách duy nhất là Quan Công tự thanh minh cho mình bằng hành động mới thuyết phục được Trương Phi.
Như thế, Trương Phi không chỉ là người nóng nảy, thô lỗ  mà còn là người tế nhị và cẩn trọng nữa. Tế nhị và thô lỗ là hai nét tính cách đối lập nhau, vậy mà lại thống nhất với nhau trong con người Trương Phi. Điều đó cũng giống như Quan Công vừa tự cao lại vừa khiêm nh­ường vậy. Cái tài của tác giả là đã tạo ra được tình huống cho cả hai nhân vật chính của tác phẩm đều bộc lộ sự thống nhất của những nét tính cách đối lập trong bản thân một nhân vật. Vì thế, đoạn trích có kịch tính và rất hấp dẫn đối với người đọc.
6. Cả hai nhân vật Trương Phi và Quan Công đều bộc lộ nét tính cách đối lập so với bản thân tr­ước đó, hãy phân tích để thấy rõ điểm này.
Gợi ý:
- Quan Công tỏ ra khiêm như­ờng, nhũn nhặn, khác hẳn mọi khi.
- Trương Phi tỏ ra thận trọng cũng khác hẳn sự giản đơn trong suy nghĩ thường ngày.
- Để làm nổi rõ vấn đề đó, tác giả đã khéo léo dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật như miêu tả hình dung, diện mạo, thái độ, ngôn ngữ  và hành động của mỗi nhân vật.
7. Phân tích tính cách nhân vật Quan Công
- Quan Công là một người trung nghĩa: “Thân tại Tào doanh, tâm tại Hán”, tình thế bắt buộc phải ở doanh trại của Tào nhưng chư­a từng xuất hiện trong đầu ý nghĩ phản bội.
- Quan Công trong đoạn trích này tỏ ra rất khiêm nh­ường, nhũn nhặn. Đó là thái độ hết sức hợp lí và cần thiết khi mà Quan Công ở trong tình cảnh “tình ngay lí gian”. Để thanh minh, nhất là tr­ước một người nóng nảy như Trương Phi, không thể tự cao, tự phụ, không thể dõng dạc, đường hoàng như ở nơi khác, trong hoàn cảnh khác được. Bởi thế, Quan Công còn phải nhờ đến cả hai chị dâu minh oan cho mình. Không hiệu quả, Quan Công lại phải tự mình kêu oan. Không nên hiểu đây là sự uỷ mị, yếu đuối. Phải hiểu giá trị của lời thề kết nghĩa v­ườn đào thiêng liêng như thế nào, phải hiểu quan niệm “trung thần thà chịu chết không chịu nhục”, “đại tr­ượng phu không thờ hai chủ” mới thấy cách xử sự của Quan Công trước Trương Phi như thế là hợp tình, hợp lí.
8. Phân tích diễn biến tâm lí của các nhân vật
Gợi ý:
- Trương Phi hiểu lầm cho rằng Quan Công đã từng sống ở doanh trại của Tào Tháo tức là đã theo Tào Tháo, phản bội anh em Lưu Bị và Trương Phi.
- Khi gặp Trương Phi thấy Trương Phi “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa bát xà mâu, chạy lại đâm Quan Công”, Quan Công đã nói: “Hiền đệ cớ sao như thế, há quên nghĩa vư­ờn đào ru?”. Câu nói ấy đã như đổ thêm dầu vào lửa, làm Trương Phi càng bừng bừng lửa hận. Thực chất, Quan Công do không biết Trương Phi đang hiểu lầm mình nên đem việc kết nghĩa vư­ờn đào của ba anh em ra để nhắc nhở, uốn nắn thái độ phẫn khích có phần thái quá của Trương Phi. Không ngờ câu nói ấy đã phản tác dụng, vì lúc này Trương Phi đang hiểu lầm Quan Công cho nên Trương Phi coi Quan Công như một kẻ đã phản bội, lại còn ra vẻ nhắc lại lời thề kết nghĩa, như thế thật đáng xử theo đúng luật đã được quy định khi họ thề nguyền: “Nếu ai bội nghĩa quên ơn thì trời người cùng giết”.
9. Bình luận nhan đề Hồi trống Cổ Thành
Gợi ý:
- Nhan đề Hồi trống Cổ Thành gợi ra không khí trận mạc. Đoạn trích không chỉ nói về một mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa Trương Phi và Quan Công mà còn nói tới một mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn giữa Quan Công và Sái Dương. Sự hấp dẫn của đoạn trích là mâu thuẫn thứ yếu đã có tác dụng làm mâu thuẫn chủ yếu thêm căng thẳng.
- Trong câu chuyện, hồi trống là điều kiện. Trương Phi ra điều kiện rất khắc nghiệt rằng sau ba hồi trống Quan Công phải chém được đầu Sái Dư­ơng. Quan Công, tr­ước đó đã bị Lưu Bị ngờ vực. Khi nghe tin Quan Công ở trong doanh trại Tào Tháo, Lưu Bị đã viết thư khiển trách nặng nề: Bị cùng túc hạ kết nghĩa v­ườn đào, thề cùng sống thác, nay sao nửa đường bỏ nhau, cắt đứt ân nghĩa? Túc hạ nếu muốn lập công danh, toan đường phú quý, Bị xin đem đầu dâng túc hạ để túc hạ lập nên công lớn... ”. Dù đã viết thư phúc đáp rằng: “... Em có bụng khác, thần người cùng giết. Moi gan rạch mật, bút giấy không nói hết  lời... Xin nhủ lòng soi xét”, nhưng trong lòng Quan Công khát vọng minh oan vẫn thôi thúc và vì thế mà sức mạnh và tài năng đã nhân lên gấp bội để tỏ rõ tấm lòng trong sáng của mình. Thêm nữa, sẵn mâu thuẫn với Sái D­ương, Quan Công đã chém được đầu Sái Dương trong một thời gian rất ngắn, ngắn hơn cả điều kiện hà khắc mà Trương Phi đã đặt ra.
Nhan đề Hồi trống Cổ Thành vừa gợi lên không khí trận mạc, vừa là biểu tượng cho lòng trung nghĩa, cho tinh thần dũng cảm và quang minh chính đại.
10. Có thể đối chiếu với bài Tức cảnh của Hồ Chí Minh để hiểu rõ hơn tính cách của hai nhân vật Trương Phi và Quan Công trong đoạn trích. Đồng thời thấy được tư tưởng đề cao tín nghĩa của người xưa.
TỨC CẢNH
                                                                                    HỒ CHÍ MINH
Nguyên văn:                    
Thụ sao([3]) xảo hoạ Trư­ơng Phi t­ượng,
                              Xích nhật tr­ường minh Quan Vũ tâm;
                                    Tổ quốc chung niên vô tín tức,
                                    Cố hư­ơng mỗi nhật vọng hồi âm.

Dịch thơ:            
Cành lá khéo in hình Dực Đức,
                                    Vầng hồng sáng mãi dạ Quan Công;
                                    Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng,
                                    Tin tức bên nhà bữa bữa trông.
                                                                        NAM TRÂN dịch


dạng 2

HỒI TRỐNG CỔ THÀNH
(Trích hồi 28 - Tam quốc diễn nghĩa)
                                                                                La Quán Trung
A- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
I- Hướng dẫn học bài:
Bài tập 1.Tại sao Trương Phi nổi giận định đâm chết Quan ông?
Gợi ý:
Trương Phi là người cương trực, tính tình nóng nảy (Dân gian có câu:“Nóng như Trương Phi”). Đang lúc giận, câu nói của Quan Vũ: "Hiền đệ cớ sao như thế, há quên nghĩa vườn đào ru?" khiến Trương Phi bừng bừng nổi giận. Quan Vũ muốn nhắc lại việc kết nghĩa vườn đào để Trương Phi bớt giận, không ngờ điều đó như đổ thêm dầu vào lửa, càng làm Trương Phi phẫn nộ bởi vì trong suy nghĩ của Trương Phi, Quan Vũ theo Tào phản bộanh em, đã phản bội còn rêu rao "nghĩa vườn đào" là hoàn toàn không xứng, là đáng phỉ nhổ, đáng giết.
Trương Phi, với tính cách một võ tướng dũng mãnh, một đấng trượng phu, luôn là người cương trực, không chấp nhận sự quanh co, lắt léo, đen trắng rõ ràng. Nhưng quan trọng hơn cả, Trương là người trọng nghĩa khí, quý tình anh em. Cho nên, hành động tấn công người anh em kết nghĩa vườn đào chẳng phải chỉ do hiểu nhầm đơn thuần, cũng không chỉ biểu hiện cá tính nóng nảy, mà còn bộc lộ một phẩm chất rất đáng quý của Trương Phi: đó là phẩm chất của đấng trượng phu, quân tử, hào hiệp, coi tình nghĩa là trên hêt, căm ghét tận xương tuỷ thứ hạng người bất nghĩa, bất trung...
Bài tập 2.Vì sao đoạn trích lại có nhan đề là "Hồi trống cổ thành"?
Gợi ý:
Trong nguyên tác, hồi 28 có tiêu đề:
“Chém Sái Dương, anh em hoà giải
Hồi Cổ thành, tôi chúa đoàn viên”
Chữ "hồi" trong nhan đề đoạn trích (do người biên soạn đặt) có nghĩa là hồi trống (danh từ). Đây là hồi trống do Trương Phi gióng lên như một chi tiết có ý nghĩa nghệ thuật độc đáo. Đây trước hết cũng là hồi trống trận như tất cả những hồi trống trận thông thường khác, nhưng có điều là người đánh trống không phải thuộc quân bên này hay quân bên kia, và hơn nữa, mục đích của hồi trống cũng không phải chỉ có thúc giục kẻ giao chiến. Có thể thấy, hồi trống như trút hết tất cả tâm trạng đang đầy mâu thuẫn, sự xúc động, căng thẳng đến tột cùng của Trương võ tướng, từ sau ngày anh em thất trận, bặt vô âm tín, cho đến nỗi oán hận vì nghe tin thất thiệt về Quan Công, những hi vọng được gặp lại nhau, và những thất vọng vì hiểu nhầm về nhau..., tất cả những tâm trạng ấy như đã được dồn nén để bây giờ vang lên, bùng nổ ra trong hồi trống cổ thành. Cho nên, ta như nghe thấy trong hồi trống ấy có cả tiếng khóc, tiếng cười, tiếng gầm thét vì giận dũ của Trương Phi. Nó như một khúc ca, ca ngợi tấm lòng trượng nghĩa, tình huynh đệ bất diệt giữa những người anh em kết nghĩa vườn đào.
Chính vì vậy, đặt tên cho đoạn trích là Hồi trong cổ thành là rất phù hợp với nội dung đoạn trích.
Bài tập 3.Có ý kiến cho rằng "nóng như Trương Phi" còn là nóng lòng muốn biết sự thực, nóng lòng xác định phải trái, đúng sai, chứ không phải chỉ là nóng nảy do cá tính gàn dở. Anh (chị) có đồng ý không? Vì sao?
Gợi ý:
Trương Phi có tính cách nóng nảy. Sự nóng nảy ấy, ngoài ý nghĩa cá tính riêng, còn có nhiều ý nghĩa khái quát khác:
- Mạnh mẽ, quyết liệt... (Tính cách một võ tướng).
- Cương trực, đường hoàng, hồn nhiên, trung thực... (Tính cách của một đấng trượng phu).
- Giàu tình cảm, trọng nghĩa khí...(Trượng phu)...
Theo ý nghĩa đó thì “nóng như Trương Phi” theo cách nói tiếng Việt mà được hiểu là “cá tính nóng nảy gàn dở” hay “nóng lòng muôn biết sự thật” đều không đúng.
Cần hiểu thành ngữ này theo nghĩa khái quát nhất: chỉ những hành vi và thái độ quá nóng nảy (nhưng không gàn dở và cũng không chỉ trong ý nghĩ).
Bài tập 4.Tại sao nói: nếu không có chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống thì đoạn văn sẽ tẻ nhạt, mất hết ý vị Tam quốc?
Gợi ý:
Xem ý nghĩa của hồi trống đã phân tích ở bài tập 2.
Nếu không có chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống thì đoạn văn sẽ tẻ nhạt, rơi vào cuộc đoàn viên tầm thường, trong đó tính cách của các bậc anh hùng không được bộc lộ, tình nghĩa huynh đệ thuỷ chung, cao đẹp không được ngợi ca...
II-Luyện tập:
Bài tập 1. Kể lại câu chuyện bằng một đoạn vãn khoảng 30 dòng.
Gợi ý:
+ Cần tóm lược vài chi tiết trước đoạn trích:
Sau thất thủ Từ Châu, anh em kết nghĩa vườn đào Lưu - Quan - Trương phiêu dạt mỗi người một nơi. Quan Vũ túng thế, buộc phải ở với Tào Tháo. Khi nghe tin Lưu Bị đang ở với Viên Thiệu, Quan Vũ liền bỏ Tào, vượt qua năm cửa ải, chém sáu tướng Tào cản đường, đưa Cam và Mi phu nhân về với Lưu Bị. Trên đường đi, Quan Vũ gặp Trương Phi ở Cổ thành.
+ Nội dung đoạn trích khi kể cần đảm bảo:
- Quan Vũ đi qua Cổ thành, nghe tin Trương Phi ở đấy, rất mừng rỡ.
- Trương Phi nghe tin thất thiệt, ngỡ Quan Vũ hàng Tào, cả giận đem nghìn quân ra cửa Bắc “hỏi tội” Vân Trường.
- Cam phu nhân và Mi phu nhân can ngăn, nhưng Trương vẫn không tin.
- Trương Phi quát mắng, kể tội Vân Trường.
- Vân Trường đối chất với Trương Phi.
- Sái Dương đuổi theo Vân Trường để trả thù. Vân Trường chém đầu Sái Dương.
- Vân Trường bắt một tên lính cầm cờ hiệu hỏi, biết rõ đầu đuôi. Qua việc tra hỏi tên lính này, mối nghi ngờ của Trương Phi mới được giải toả.
- Trương Phi khóc, lạy Vân Trường. Anh em đoàn viên.
Bài tập 2 và bài tập 3. Tính cách của nhân vật Trương Phi được biểu hiện qua những chi tiết nào? Tính cách của Trương Phi và Quan Công khác nhau như thế nào?
Gợi ý:
a- Nhân vật Trương Phi:
+ Tính cách của Trương Phi nóng nảy, cương trực, nhưng ngay thẳng, đường hoàng, trung thực, đó là tính cách của một võ tướng và một đấngtrượng phu được cụ thể hoá trong một cá tính hồn nhiên, bộc trực. Tính cách đó còn thể hiện phẩm chất của Trương Phi là một người trọng nghĩa khí, giàu tình cảm...
Dẫn chứng: Khi nghe Tôn Càn nói Vân Trường đưa hai chị đến. "Trương Phi không nói không rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu, lên ngựa... mắt trợn tròn xoe râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm..."Trương Phi xưng hô "mày - tao" và đòi tử chiến, rồi ra điều kiện và dang tay giục trống...
Trong đoạn trích này, sự hung hăng, nóng nảy của Trương Phi dễ được cảm thông vì nó “hồn nhiên”, xuất phát từ sự chân tình và lòng trung thực. Cho nên, khi Quan Vũ chứng minh lòng trung thực của mình, chém đầu Sái Dương rơi xuống đất, nhất là khi nghe tên lính Tào và hai phu nhân kể lại, Trương Phi đã khóc lạy Vân Trường, rất cảm động.
+ Nghệ thuật miêu tả Trương Phi:
- Tạo hai cách miêu tả ngược nhau: một Trương Phi nóng nảy, cương trực, đàng hoàng..., luôn đòi chém đầu Vân Trường để trả thù kẻ phản bội, ngược với một Trương Phi hồn hậu, giàu tình cảm khi nhận ra sự thật, nước mắt chảy dòng và quì lạy nghĩa huynh. Hai mặt mâu thuẫn ấy của tính cách làm cho câu chuyện có kịch tính nhưng rất hợp lí và sinh động.
- Phương pháp miêu tả thái cực: các nét tính cách đều được đẩy đến mức tuyệt đối, cực đoan - Trương Phi nóng nảy hết mức, nhưng cũng rất giàu tình cảm...
- Miêu tả gián tiếp qua hồi trống: Hồi trống cổ thành trở nên xúc động lòng người vì nó dồn hết tình cảm, tâm trạng của Trương Phi với biết bao hờn giận vì hiểu lầm, sự xót xa vì thất tán, cùng tình nghĩa thuỷ chung thắm thiết của ba anh em kết nghĩa vườn đào...
b- Nhân vật Quan Công:
+ Tính cách: Trung nghĩa, khiêm nhường.
Trước thái độ của Trương Phi, Quan Vũ vẫn nhũn nhặn, xưng hô “anh em”, “huynh đệ”, cố gắng giải thích. Khi không thể giải thích, Quan Vũ chấp nhận thử thách và đã chứng minh bằng tài trí và sự dũng mãnh. Việc lấy đầu Sái Dương khi chưa dứt một hồi trống cho thấy cái tài của viên đại tướng đứng đầu “Ngũ hổ tướng quân” đất Thục, đồng thời cởi bỏ mọi nghi ngờ của Trương Phi, khẳng định lòng trung nghĩa của Quan Vũ.
+ Nghệ thuật miêu tả:
- Tác giả đặt nhân vật vào tình huống giàu kịch tính.
- Nhân vật được miêu tả qua ngoại hình, thái độ, ngôn ngữ, hành động đặc biệt là qua hành động. Đoạn trích còn kể đến nhiều nhân vật khác, các nhân vật này có giá trị làm nền, tạo bối cảnh để làm nổi bật nhân vật chính.
- Cũng như với nhân vật Trương Phi, Quan Vũ được miêu tả theo bút pháp cổ điển, với cách miêu tả thái cực: Vân Trường được miêu tả đến mức điển hình cho người trượng phu trung nghĩa.

0 Nhận xét