Xem Ngay

Bài Nỗi thương mình ngữ văn 10

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 10  Bài Nỗi thương mình
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 10, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.
.
                                                                       Dạng 1

NỖI THƯƠNG MÌNH
(Trích Truyện Kiều)
                                                                             NGUYỄN DU
I – KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Xem mục Tìm hiểu về tác giả ở bài Đọc Tiểu Thanh kí.
2. Với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đặc sắc trong diễn tả tâm lí nhân vật, đoạn trích Nỗi thương mình khẳng định về ý thức nhân phẩm của Thuý Kiều qua việc nàng thấy đau đớn, tủi nhục khi buộc phải dấn thân vào chốn lầu xanh ô nhục; từ đó cho thấy sự thấu hiểu, lòng thương của Nguyễn Du đối với những kiếp người bất hạnh.
II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Tìm hiểu xuất xứ
Gợi ý:
Đoạn trích nằm ở phần hai của tác phẩm Truyện Kiều ("Gia biến và lưu lạc", từ câu 1229 đến câu 1248),  miêu tả tâm trạng Kiều trong cảnh sống ô nhục ở lầu xanh của mụ Tú Bà.
Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều bị Sở Khanh lừa rủ đi trốn, rồi bị Tú Bà bắt lại, đánh đập dã man và ép phải tiếp khách, ở chốn lầu xanh, Kiều đã cảm thấy đầy đủ nỗi đớn đau, tủi nhục của bản thân.
2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích
Gợi ý:
Có thể chia đoạn trích làm 2 đoạn nhỏ:
- Đoạn 1 (12 câu đầu): Cảnh sống ở lầu xanh và thái độ của Kiều.
- Đoạn 2 (còn lại): Cảnh sắc, công việc ở lầu xanh và thái độ g­ượng gạo của Kiều.
3. Nhận xét về nghẹ thuật sử dụng từ ngữ
Gợi ý:
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ sáng tạo: bướm lả ong lơi, lá gió cành chim, dày gió dạn sương, gió tựa hoa kề, bướm chán ong chường,...  Sáng tạo kiểu cấu trúc đan xen ở đây vừa có tác dụng nhấn mạnh, vừa làm cho sự vật mơ hồ, không cụ thể, tô đậm cảm giác kéo dài, triền miên, lột tả cuộc sống chìm ngập trong tủi nhục của Kiều.
4. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả thời gian
Gợi ý:
Đối sánh với cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, đây là thời gian ba năm Kiều sống ở nhà chứa. Nhưng ở Truyện Kiều, Nguyễn Du không cho biết thời gian cụ thể là bao lâu mà chỉ nói khái quát: biết bao, đầy tháng, suốt đêm, sớm, tối, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, khi sao, giờ sao, đòi phen,...  Cách biểu hiện này tạo một cảm giác thời gian dài dằng dặc, triền miên, không dứt qua đó diễn tả thái độ thờ ơ, chán chường, lãnh đạm của Kiều.
5. Nghệ thuật sử dụng hình thức lời kể nửa trực tiếp trong đoạn trích đã đạt được hiệu quả như thế nào?
Gợi ý:
Lời kể là của nhà văn, nhưng từ ngữ, ý thức là của nhân vật. Từ câu 5 đến câu 20, chủ thể của lời kể xưng là "mình". Đây rõ ràng là lời xưng của nhân vật. Các câu từ 5 đến 10 vừa là câu kể, câu than pha câu hỏi, nghe như chính lời từ trong ý thức nhân vật vang lên. Kiểu diễn đạt này góp phần tạo hiệu quả biểu hiện trực tiếp tâm tư nhân vật. Người kể từ điểm nhìn nhân vật mà trần thuật, nhìn bằng cảm giác, tình cảm của nhân vật. Với dạng lời này, dòng độc thoại nội tâm nhân vật được đan cài linh hoạt trong lời kể của người kể chuyện, nó hiện diện một cách thực thể trong lời kể.
6. Thủ pháp nghệ thuật trùng điệp, sóng đôi (khi, lúc, khi sao, giờ sao, đòi phen,...) kết hợp với tiểu đối (Khi tỉnh rượu / lúc tàn canh, phong gấm / rủ là, dày gió/ dạn sương, bướm chán / ong chường,...  Nửa rèm tuyết ngậm / bốn bề trăng thâu, nét vẽ / câu thơ, Cung cầm trong nguyệt / nước cờ dưới hoa) có tác dụng hô ứng, tạo ra hiệu quả khắc hoạ đậm nét trạng thái tâm lí, ý thức, xúc cảm của nhân vật trong tình huống ê chề không lối thoát.
7. Phân tích tâm trạng Thuý Kiều qua sáu câu thơ đầu đoạn trích
Gợi ý:
Bốn câu đầu miêu tả cảnh sống ở lầu xanh. Đây là nơi xuất hiện của những con người không đứng đắn, cuộc sống ở đây được gọi là suồng sã, trăng gió. Tác giả không trực tiếp miêu tả về nó mà dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ. Chính những hình ảnh đó giúp người đọc hình dung về cuộc sống tạm bợ nơi đây và sự chán chường của Kiều khi buộc phải ở nơi này.
Hai câu 5, 6 nói thật sâu sắc về tâm trạng Kiều: "Khi tỉnh r­ượu, lúc tàn canh" ấy là khi Kiều đối diện với tâm trạng thật của bản thân mình, cảm nhận đầy đủ nỗi ê chề nhục nhã mà một người con gái khuê các phải chịu đựng.
8. Trong các câu thơ sau, tâm trạng của Thuý Kiều được thể hiện như thế nào?

Khi sao phong gấm rủ là,

  Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
  Mặt sao dày gió dạn sương,
             Thân sao b­ướm chán ong chư­ờng bấy thân !
Gợi ý:
Đoạn thơ là sự đối lập như n­ước với lửa giữa hai khung cảnh cuộc sống: khi còn ở nhà và khi sa cơ lỡ vận. Kiều xót xa, thương tiếc cho bản thân mình, nàng tự ví mình như bông hoa đẹp bị dập vùi tơi tả trong giông bão, khác hẳn cuộc sống sang trọng quý phái tr­ước đây. Đó không chỉ đơn thuần là nỗi đau cho hiện tại mà còn là nỗi đau thân phận: từ địa vị một người con gái khuê các bị đày ải xuống nỗi nhục của một kẻ tôi đòi. Càng thấm thía cảnh ngộ, Kiều càng dằn vặt bởi câu hỏi nhức nhối: sao bản thân mình giờ lại có thể “dày gió dạn sương” tức là chai sạn trước thái độ suồng sã của khách làng chơi ở chốn lầu xanh nhơ bẩn? Sao tấm thân vàng ngọc của mình lại phải sa vào chốn này? Những câu hỏi chua chát ấy vang lên như tiếng kêu đau đớn của nỗi nhục nhã ê chề mà lẽ ra Kiều không phải hứng chịu.
9. Cảnh sắc ở lầu xanh và thái độ g­ượng gạo của Kiều
- Cảnh sắc ở lầu xanh:
Những thú vui phong, hoa, tuyết, nguyệt đồng thời cũng tượng trưng cho bốn mùa xuân (hoa), hạ (phong), thu (nguyệt), đông (tuyết). Mỗi mùa có nét đẹp riêng của phong cảnh thiên nhiên. Nhưng, dẫu là cô gái có đời sống nội tâm phong phú, dẫu có yêu cảnh sắc thiên nhiên, Kiều cũng không có tâm trí nào mà hưởng vui thú, không thể ngắm cảnh đẹp. Nhà thơ thật tài tình khi kết luận từ tâm trạng của Kiều:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Vốn có tài năng về cầm, kì, thi, hoạ nhưng ở chốn lầu xanh, Kiều cũng chỉ cố gắng tỏ ra vui một cách g­ượng ép vì không thể tri âm cùng ai ở chốn này. Đã không có tri âm thì mọi thú vui đều trở thành vô nghĩa:
Vui là vui g­ượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai?


Dạng 2
NỖI THƯƠNG MÌNH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
A- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
Bài tập1.
Gợi ý:      
Đoạn trích từ câu 1229 đến câu 1248, miêu tả tâm trạng Thuý Kiều trong cảnh sống ô nhục ở lầu xanh của Tú Bà. Đoạn trích có thể chia làm 3 đoạn nhỏ:
-     Đoạn 1 (bốn câu đầu): Tình cảnh trớ trêu của Thuý Kiều.
-     Đoạn 2 (tám câu tiếp theo): Thái độ, tâm trạng và nỗi niềm của Thuý Kiều trước cảnh sống lầu xanh.
-     Đoạn 3 (tám câu còn lại): Cảnh vật diễn tả nỗi cô đơn, đau khổ của Thuý Kiều.
Bài tập 2. Bút pháp ước lệ trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào đối với việc diễn tả thân phận éo le của nàng Kiều? Qua đó, có thể nói gì về tình cảm của tác giả đối với nhân vật?
Gợi ý:      
Bút pháp ước lệ là cách dùng các hình ảnh ẩn dụ, các điển tích, điển cố như: bướm lả ong lơi; lá gió cành chim; sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh,... Bút pháp ước lệ đã giúp cho Nguyễn Du miêu tả chốn “bụi trần” dơ bẩn mà câu thơ vần thanh cao, trang nhã. Cái tài của Nguyễn Du là miêu tả chốn lầu xanh mà vẫn không hề dung tục. Không dung tục nhưng cũng không hề né tránh hiện thực nghiệt ngã mà nhân vật đang phải trải qua. Nguyễn Du đã dùng bút pháp ước lệ để vượt qua thử thách nghệ thuật này, giữ cho nhân vật của mình chân dung cao đẹp. Không những thế, bằng cách khắc hoạ tâm trạng, thái độ của Kiều, nhà thơ đã làm cho chân dung nàng trở nên ngời sáng giữa chốn bùn nhơ.
Bài tập 3.Cho biết những dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích và giá trị nghệ thuật của chúng.
Gợi ý:
Đây là một đoạn trích mà Nguyễn Du khai thác một cách triệt để các hình thức đối xứng nhằm tô đậm tâm sự chua chát, bẽ bàng, nỗi thương thân xót phận của nàng Kiều.
-     Các điệp từ sóng đôi ít nhiều có tính chất đối: khi, lúc; khi sao, giờ sao; vui... vui, ai...ai.
-     Các tiểu đối: khi tỉnh rượu - lúc tàn canh; dày gió - dạn sương; bướm chán - ong chường; nửa rèm tuyết ngậm - bốn bề trăng thâu...
-     Đối xứng ở cấp thấp nhất là tiểu đối trong bốn chữ: bướm lả - ong lơi; bướm chán - ong chường; mưa Sở - mây Tần; lá gió - cành chim; dày gió - dạn sương; gió tựa - hoa kề;... Đây là thủ pháp chẻ những cụm từ thông thường tạọ thành quan hệ đối xứng nhằm nhấn mạnh ở mức độ cao hơn so với những cụm từ không có tiểu đối (dày dạn gió sương, bướm ong lả lơi, bướm ong chán chường,...)
Cách dùng điệp từ sóng đôi và tiểu đối có giá trị biểu cảm sâu sắc, chúng vừa như nỗi tức tưởi, vừa như nỗi nghẹn ngào, vừa như nỗi ấm ức, vừa như sự đay nghiến cho số kiếp bẽ bàng. Ngoài ra, cách dùng từ như vậy có thể miêu tả được những cảm xúc tinh tế, sang trọng của nhân vật.
Bài tập 4- Phân tích thái độ, tâm trạng của Kiều và cho biết nỗi "thương mình" của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ như thế nào đối với văn học trung đại?
Gợi ý:
Thái độ, tâm trạng của Kiều là thái độ, tâm trạng của một con người luôn ý thức về nhân phẩm lại phải từ bỏ nhân phẩm; khao khát tình yêu trong sáng tốt đẹp lại rơi vào cuộc sống bẩn thỉu, nhơ nhớp. Vì thế mà đau đớn, ê chề, bẽ bàng, chua chát.
Tâm trạng, thái độ của Kiều được khắc hoạ trong bối cảnh "khi tỉnh rượu lúc tàn canh”. Đó là lúc đêm khuya, con người trở về sống thật với mình nghe lòng nức nở, thổn thức:
"Giật mình, mình lại thương mình xót xa"
Câu thơ có tới ba chữ mình với cách ngắt nhịp bất thường (2/4/2/) đã diễn tả trạng thái tâm hồn đầy biến động; bàng hoàng - thảng thốt - đau đớn.
Bốn câu tiếp theo là bốn câu hỏi liên tiếp, dồn dập (Khi sao...? Giờ sao...? Mặt sao....? Thân sao...?) . Câu thứ nhất gợi nhớ về quá khứ, ba câu sau gợi nỗi đau đớn, xót xa, ê chề trước hiện tại. Sự đối lập hiện tại không quá khứ đã khắc sâu hơn nỗi đau. Hiện tại bao trùm, đè nặng, chôn vùi quá khứ. Quá khứ thoảng qua làm đau hơn hiện tại. Bốn từ "sao" láy đi láy lại bộc lộ nỗi xót xa đến cùng cực của Thúy Kiều.
Thuý Kiều nhớ lại cảnh sinh hoạt ở lầu xanh với đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt, cầm, kì, thi, hoạ... Hình ảnh thơ có tính chất ước lệ, phiếm chỉ. Sự nhơ nhớp được che đậy bởi vẻ ngoài tao nhã. Nhưng tất cả đều hờ hững không có gì bền chặt. Nguyễn Du đã đặt tất cả dưới cái nhìn buồn thảm, chua chát, bẽ bàng của Thuý Kiều.
Hai câu kết:
"Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đổ mặn mà với ai”...
Nỗi xót xa vì thiếu kẻ tri âm, thiếu người đồng cảm. Không ai cả, không có gì "mặn mà" cả, tất cả đều hờ hững. Lời thơ như tiếng nấc nghẹn vậy.,
"Nỗi thương mình" có một ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ khi đặt trong nền văn học trung đại. Đây là sự tự ý thức về cá nhân trong một thời đại mà cái cá nhân có xu hướng triệt tiêu. Hơn nữa, đây lại là ý thức cá nhân của một người phụ nữ, đối tượng được giáo dục theo tinh thần "tam tòng" an phận thủ thường, cam chịu, nhẫn nhục. Sự tự ý thức về bản thân của nàng Kiều có ý nghĩa "cách mạng". Con người không chỉ biết hi sinh, nhẫn nhục, cam chịu mà còn biết ý thức về phẩm giá, nhân cách bản thân. Cảm hứng thương xót bản thân không chỉ thấy ở nhân vật của Nguyễn Du mà còn thấy ở người cung nữ . trong Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều, người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm và người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương,... Có thể nói, văn học trung đại đến cuối thế kỉ XVIII, ý thức cá nhân đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến. Nhưng ở những sáng tác của Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều, vấn đề này được biểu hiện thấm thía hơn. Chữ "ngã” của nhân vật và của chính người nghệ sĩ đã được Nguyễn Du biểu hiện như một nét độc đáo, sâu sắc trong tư tưởng nhân đạo của mình.
Bài tập 5. Đánh giá chung về tư tưởng đoạn trích. Trong cuộc tái ngộ, Kim Trọng nói với Kiều: "Như nàng lấy hiếu làm trinh/ Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”. Theo anh (chị), đoạn trích này có thể góp phần lí giải câu nói đó như thế nào?
Gợi ý:
Đoạn trích ghi lại một đoạn đời đầy bị kịch của Thuý Kiều. Qua miêu tả tâm trạng, thái độ, ý thức của Kiều trước cảnh phải cầm lòng tiếp khách, Nguyễn Du đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Kiều ngời lên giữa một xã hội bạo tàn, nhơ bẩn với sự cảm thông sâu sắc của người nghệ sĩ. Đoạn trích góp phần thể hiện giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm.
Lời Kim Trọng nói với Kiều trong ngày tái ngộ đã xác nhận chữ "trinh” của nàng. Vì chữ "hiếu”, nàng đã phải hi sinh cả sự trinh trắng, trải qua mười lăm năm sống cuộc đời gió bụi, qua tay Mã Giám Sinh, làm vợ Thúc Sinh rồi Từ Hải, hết rơi vào lầu xanh của Tú Bà lại rơi vào lầu xanh của Bạc Bà, Bạc Hạnh nhưng "bụi nào cho đục được mình ấy vay?”, tâm hồn, nhân cách, phẩm giá của Kiều vẫn trong trắng, cao thượng. Nguyễn Du đã không né tránh thực tế nghiệt ngã, nhưng cũng chính trong thực tế ấy, nhà thơ hết lời ca ngợi, đề cao vẻ đẹp nhân cách, phẩm giá của Kiều mà đoạn trích "Nỗi thương mình ” là một đoạn tiêu biểu.

0 Nhận xét