Xem Ngay

Bài Tựa"Trích diễm thi tập" ngữ văn 10

HocNhanh.vn
Ngữ Văn 10  Bài Tựa"Trích diễm thi tập"
Nhằm giúp các bạn có một cẩm nang ngữ văn Tốt nhất, Học tốt ngữ văn, Trước hết các bạn cần soạn bài học trong Môn Ngữ Văn. Nay chúng tôi xin tổng hợp kiến thức Ngữ Văn Lớp 10, Mỗi Bài có 2 dạng để các bạn lựa chọn, Các bạn rê chuột xuống dưới để xem dạng 1 và dạng 2.
.
                                                                       Dạng 1


TỰA “TRÍCH DIỄM THI TẬP”
(Trích)
HOÀNG ĐỨC LƯƠNG
I – KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Hoàng Đức Lương người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh H­ưng Yên, sau chuyển đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm năm 1478. Ông để lại: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đ­ưa vào Toàn Việt thi lục.
2. Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức t­ước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình.
3. Trong công việc biên soạn cũng như sáng tác, Trần Đức Lương bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ tiến bộ. Đó là sự chú ý đến tính thẩm mĩ của văn chương. Tấm lòng yêu n­ước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc.
II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Tìm hiểu xuất xứ
Gợi ý:
Bài tựa này nằm trong Trích diễm thi tập (1497), một tập thơ gồm sáu quyển do Hoàng Đức Lương s­ưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến thời Tiền Lê.
2. Tìm hiểu bố cục
Gợi ý:
- Đoạn 1: Lí do làm sách Trích diễm thi tập.
- Đoạn 2: Quá trình hoàn thành Trích diễm thi tập.
Ngoài ra còn phải kể đến phần Lạc khoản.
3. Phân tích mạch lập luận của bài tựa.
Gợi ý: Mạch lập luận sáng rõ: Những lí do khiến thơ văn không lưu truyền được à Ý thức gìn giữ, tinh thần trân trọng di sản văn hoá dân tộc à Công việc biên soạn sách.
4. Những phân tích và trình bày lí lẽ được kết hợp với yếu tố biểu cảm làm tăng thêm sức thuyết phục cho những điều tác giả muốn diễn đạt:
- Thái độ đối với thực trạng thất truyền của thơ văn, sách vở: Lòng tha thiết đối với vẻ đẹp của thơ văn; Những câu hỏi đầy day dứt, thể hiện sự xót xa tr­ước thực trạng thơ văn không được lưu truyền và với những mặt trái của đời sống xã hội.
- Tinh thần tự trọng, ý thức dân tộc và niềm đau xót được bộc lộ trực tiếp: “Than ôi ! Một n­ước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường. như thế chả đáng thương xót lắm sao !”
5. Những lời lẽ nào thể hiện thái độ nghiêm túc, thận trọng, khiêm tốn tr­ước công việc biên soạn sách?
Gợi ý: “Tôi không tự lượng sức mình… chẳng khác gì hiện nay ta chê trách người x­a vậy”.
6. Theo tác giả, có những lí do nào khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời?
Gợi ý:
Theo Hoàng Đức Lương, thơ văn không lưu truyền được ở đời vì:
Thứ nhất, chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca.
Thứ hai, người có học thì ít quan tâm đến thơ ca.
Thứ ba, người quan tâm đến thơ ca thì năng lực kém, không đủ kiên trì.
Thứ tư­, chính sách phát hành của nhà n­ước còn nhiều hạn chế.
Có thể xem đây là các lí do chủ quan.
Thơ văn không lưu truyền được ở đời còn vì những lí do khách quan. Lí do này được tác giả phân tích trong đoạn từ “Vì bốn lí do kể trên…” đến “… mà không rách nát tan tành. ”, cụ thể là:
- Thời gian làm h­ư nát sách vở.
- Binh lửa chiến tranh tiêu huỷ.
7. Động cơ nào thôi thúc tác giả biên soạn Trích diễm thi tập?
Gợi ý:
Tác giả trình bày rõ động cơ biên soạn Trích diễm thi tập:
- Xuất phát từ những bức xúc trong tình hình biên soạn sách về thơ ca Việt Nam ở thời của tác giả (các lí do khiến thơ văn không được lưu truyền).
- Trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hiến dân tộc.
8. Tác giả trình bày quá trình biên soạn Trích diễm thi tập như thế nào?
- S­ưu tầm, biên soạn sách thơ văn có nhiều khó khăn, tác giả đã có cái nhìn rất thực tiễn, đồng thời thể hiện thái độ thận trọng, khiêm tốn.
- Thu l­ượm, chọn lấy những bài tiêu biểu, phân loại.
- Biên soạn thành sáu quyển, ở cuối mỗi quyển có tác phẩm do chính tác giả viết.
9. Có thể so sánh bài tựa này với các lời nói đầu trong sách vở ngày nay?
Gợi ý:

Cùng với sự đa dạng, phong phú của sách vở hiện nay, những lời nói đầu cũng có nhiều dạng, nhiều phong cách. Nhìn chung, ở các lời nói đầu, giống với tính chất của bài tựa, đều có những nhận định khái quát về giá trị của tác phẩm, cũng như thâu tóm những nội dung chính của cuốn sách. Tuy nhiên, chức năng, đặc điểm của lời nói đầu ở những quyển sách s­ưu tầm, biên soạn gần hơn cả với chức năng, đặc điểm của bài tựa theo kiểu bài tựa của Hoàng Đức Lương: Trình bày kết cấu sách; quan điểm tập hợp, tuyển chọn; tên người viết, nơi viết, thời gian viết,…


Dạng 2

TỰA "TRÍCH DIỄM THI TẬP" (Trích diễm thi tập tự) Hoàng Đức Lương A- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP  I. Hướng dẫn học bài: Bài tập 1: Theo Hoàng Đức Lương, có những nguyên nhân nào khiến "thơ văn không lưu truyền hết ở đời ”? Gợi ý: Trong phần đầu của bài tựa, tác giả trình bày bốn lí do khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời: -     Lí do thứ nhất: Chỉ có thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thi ca. Có thể đặt tên cho lí do này là “ít người am hiểu -     Lí do thứ hai: Người có học thì bận rộn chốn quan trường hoặc lận đận trong khoa cử, ít để ý đến thơ ca. Có thể đặt tên cho lí do này là: “Danh sĩ bận rộn. -     Lí do thứ ba: Có người quan tâm đến thơ ca nhưng không đủ năng lực và kiên trì, Có thể đặt tên cho lí do này là: “Thiếu người tâm huyết”. -     Lí do thứ tư: Triều đình chưa quan tâm. Có thể đặt tên cho lí do này là: “Chưa có lệnh vua’’... Ngoài bốn lí do thuộc về chủ quan, tác giả còn nêu lí do thuộc về khách quan. Đoạn tiếp theo từ "Vĩ bốn lí do kể trên..." đến "... mà không rách nát tan tành" là lí do thứ năm: thời gian và binh hoả có sức huỷ hoại ghê gớm. Đoạn văn kết lại bằng một câu hỏi tu từ có ý nghĩa phủ định: "... thì còn giữ mãi thế nào được mà không rách nát tan tành? Câu hỏi biểu hiện nỗi xót xa của tác giả trước thực trạng đau lòng. Đó là nguyên nhân thôi thúc tác giả làm sách “Trích diễm thi tập”. Bài tập 2. Hoàng Đức Lương đã làm gì để sưu tầm thơ văn của tiền nhân? Gợi ý: Phần tiếp theo, tác giả trình bày động cơ khiến mình phải sưu tầm, tuyển chọn thơ ca dân tộc để soạn “Trích diễm thi tập”.  Đó là: -     Thực trạng tình hình sách vở về thơ ca Việt Nam rất hiếm ''không khảo cứu vào đâu được". Người học làm thơ như Hoàng Đức Lương "chỉ trông vào thơ bách gia đời nhà Đường". -     Nhu cầu bức thiết phải biên soạn sách “Trích diễm thi tập ” bởi vì "một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản Đó là những động cơ thôi thúc tác giả soạn sách “Trích diễm thi tập”. Việc làm thì hết sức lớn lao, công phu và ý nghĩa, không phải ai muốn cũng làm được. Song, tác giả thể hiện thái độ hết sức khiêm tốn. Đây là thái độ thường thấy của người phương Đông thời trung đại. Hoàng Đức Lương tự coi mình là "tài hèn sức mọn", khi nói về việc đưa thơ của mình vào cuối các quyển, tác giả nói "mạn phép phụ thêm những bài vụng về do tôi viết". Để hoàn thành “Trích diễm thi tập”, Hoàng Đức Lương đã phải: "tìm quanh hỏi khắp" để sưu tầm thơ ca của những người đi trước. Rồi tác giả "thu lượm thêm thơ của các vị hiện đang làm quan trong triều''. Sau đó là công việc biên soạn "chọn lấy bài hay'' rồi "chia xếp theo từng loại". Tác giả đặt tên sách là Trích diễm, gồm 6 quyển. Đây là công việc đòi hỏi tốn nhiều thời gian, công sức, người không tâm huyết sẽ không thể làm được. Bài tập 3. Điều gì thôi thúc Hoàng Đức Lương vượt khó khăn để biên soạn tuyển tập thơ này?Anh (chị) có cảm nghĩ gì về công việc sưu tầm, biên soạn thơ văn do ông tiến hành? Gợi ý: Để trả lời câu hỏi này cần có cái nhìn tổng hợp toàn bài. Cần nhấn mạnh đến những ý sau: -     Niềm tự hào về văn hiến dân tộc. -     Ý thức trách nhiệm trước di sản văn học của cha ông bị thất lạc. -     Tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí tự cường trong văn học. Bài tập 4. Anh (chị) cho biết một ỷ kiến xuất hiện trước “Trích diễm thi tập ” nói về văn hiến dân tộc. Gợi ý: Trước Hoàng Đức Lương, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi cũng đã từng đề cập đến nền văn hiến của dân tộc: "Như nước Đại Việt ta từ trước  Vốn xưng nền văn hiến đã lâu ”... Cả hai ý kiến đều phản ánh ý thức độc lập dân tộc và niềm tự hào về văn hiến dân tộc của nhân dân Việt Nam đang trên đà được khẳng định. Bài tập 5. Nhận xét tổng quát về bài tựa?(không có trong SGK) Gợi ý: Bài tựa có lập luận chặt chẽ, chất trữ tình hoà quyện vào chất nghị luận. Tác giả trình bày luận điểm một cách rõ ràng, mạch lạc và khúc chiết. Lòng yêu nước được thể hiện ở thái độ trân trọng di sản văn hoá của cha ông, niềm đau xót trước thực trạng. Qua lời tựa, người đọc còn thấy được cả không khí thời đại cùng tâm trạng của tác giả. II-Luyện tập: Tìm các dẫn chứng chứng tỏ các nhà văn, nhà thơ thời xưa rất tự hào về nền văn hiến dân tộc. Gợi ý: Ngoài bài tựa của Trần Đức Lương, bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, còn nhiều tác phẩm của các tác giả khác như Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt (mặc dù chỉ là gián tiếp), Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu, Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hiền tài là nguyên khí quốc gia (Bài kí đề danh bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba) của Thân Nhân Trung là những dẫn chứng chứng tỏ các nhà văn. nhà thơ thời xưa rất tự hào về nền văn hiến dân tộc.

Nguon : http://hoctotnguvan.net/soan-bai-tua-trich-diem-thi-tap-19-784.html


0 Nhận xét